Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về Hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát nội bộ doanh thu và chi phí tại Chi nhánh Tổng công ty hàng không Việt Nam - CTCP khu vực miền Trung Chương 3: Giải pháp tăng cường kiểm soát nội bộ doanh thu và chi phí tại Chi nhánh Tổng công ty hàng không Việt Nam - CTCP khu vực miền Trung Tổng quan tài liệu nghiên cứu PGS.TS Trần Thị Giang Tân (2012) trong cuốn sách “Kiểm soát nội bộ” đã trình bày về các nội dung cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ theo khuôn mẫu của COSO, các loại gian lận và biện pháp phòng ngừa, cũng như kiểm soát nội bộ với một số chu trình nghiệp vụ hay tài sản chủ yếu. Tác giả Lê Thị Khánh Như (2012) đã nghiên cứu về “Hoàn thiện các thủ tục kiểm soát nội bộ chi phí và doanh thu tại công ty TNHH MTV cấp thoát nước Phú Yên”. Trong luận văn này, tác giả đã tập trung nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp nhưng hạn chế là tác giả chỉ nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với chu trình chi phí và doanh thu trong khi đó 5 yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ hầu như tác giả chưa đề cập tới. Tác giả Nguyễn Thị Thùy Ngân (2010) đã nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ chi phí sản xuất nước tinh khiết tại Công ty TNHH MTV Xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên Huế”.
Trong luận văn này, tác giả đã tập 5 trung nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp nhưng hạn chế là tác giả chỉ nghiên cứu 2 trong 5 yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ và đi sâu vào nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ khoản mục chi phí sản xuất với ba loại chi phí sản xuất trực tiếp là chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC. Bên cạnh đó, cũng có nhiều nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ áp dụng riêng cho từng loại hình doanh nghiệp. Có một số công trình nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngành cụ thể, như luận văn “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam” của Hoàng Thị Thanh Thủy năm 2010, tác giả Vi Hồng Quân (2013) đã nghiên cứu về “Hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh các nghiệp Việt Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Anh Tân (2010) đã nghiên cứu về “Kiểm soát nội bộ chu trình hàng tồn kho tại tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ”. Hồ Đăng Bảo Tuấn (2013) đã nghiên cứu về “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng và thu tiền tại Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Minh Toàn”.
Trong các công trình này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của kiểm soát nội bộ và đề xuất phương hướng áp dụng mô hình kiểm soát nội bộ vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài. Mặc dù vậy, tất cả các công trình nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống kiểm soát nội bộ áp dụng cho các doanh nghiệp hàng không. Chính vì vậy, các vấn đề mà đề tài cần tập trung nghiên cứu là hoàn thiện mô hình kiểm soát nội bộ áp dụng đặc thù cho các Công ty hàng không cụ thể hơn là Chi nhánh Tổng Công ty Hàng Không Việt Nam - CTCP Chi nhánh Miền Trung. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KSNB 1.
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm hệ thống KSNB Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 315 (ISA 315), KSNB bao gồm: Môi trường kiểm soát, quá trình đánh giá rủi ro, thông tin và truyền thông, các hoạt động kiểm soát và giám sát. ISA 315 đã có những thay đổi tích cực nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán thông qua thay đổi quan điểm cũng như cách thức tiếp cận HTKSNB, mở rộng quan điểm về môi trường kinh doanh và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thủ tục phân tích trong quá trình thu thập thông tin, để sớm phát hiện ra những rủi ro có khả năng tồn tại trong BCTC. Theo văn bản hướng dẫn kiểm toán quốc tế số 6 của Hội đồng liên hiệp các nhà kế toán Malaysia (MACPA), hệ thống KSNB là cơ cấu tổ chức cộng với những biện pháp, thủ tục do Ban quản trị của một tổ chức thực thể chấp nhận, nhằm hỗ trợ thực thi mục tiêu của Ban quản trị đảm bảo tăng khả năng thực tiễn tiến hành kinh doanh trong trật tự và có hiệu quả, bao gồm tuyệt đối tuân thủ đường lối của Ban quản trị, bảo vệ tài sản, ngăn chặn và phát hiện gian lận, sai lầm, đảm bảo tính chính xác, toàn diện số liệu hạch toán xử lý kịp thời và đáng tin cậy số liệu thông tin tài chính.
Theo COSO (2016), KSNB là một quá trình do con người quản lý, hội đồng quản trị và các nhãn viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, nhằm cho báo cáo tài chính đáng tin cậy, các luật lệ và quy định được tuân thủ, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. Qua các quan điểm về KSNB nêu trên thì KSNB quả là rất cần thiết trong bất cứ thực thể kinh tế nào.KSNB có những nội dung chính sau: Một là, KSNB là một quá trình, KSNB không phải là một tình huống hay một sự kiện.Nó là cả một chuỗi các hoạt động được thực hiện ở toàn 7 doanh nghiệp.Kiểm soát luôn tồn tại và được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình hoạt động, quá trình quản lý. Kiểm soát tồn tại trong suốt quá trình quản lý. Kiểm soát được thực hiện trước, trong và sau mỗi hoạt động định hướng hoặc tổ chức để thực hiện hoặc điều chỉnh mỗi hoạt động đó.
Hai là, KSNB bị chi phối bởi con người trong đơn vị.Những người có khả năng chi phối KSNB đó là Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên. Các mục tiêu cùng với những cơ chế kiểm soát đều do chính con người đặt ra. Bên cạnh đó thì KSNB có thể tác động lại vào hành vi của con người. Khi bắt tay vào công việc mỗi cá nhân có khả năng, cách thức, lối suy nghĩ và hành động khác nhau, KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân, từ đó hướng các hoạt động của mọi người đến mục tiêu chung của đơn vị.
Ba là, KSNB đảm bảo hợp lý. KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý để hướng đến việc đạt được mục tiêu của đơn vị. Kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm bảo tuyệt đối. Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ như: những sai lầm của con người khi đưa ra các quyết định, sự thông đồng của các cá nhân hay sự lạm quyền của nhà quản lý có thể vượt khỏi kiểm soát nội bộ.Hơn nữa một nguyên tắc cơ bản trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó.
Như vậy, trên các phương diện tiếp cận thì KSNB được diễn đạt khác nhau, xong bản chất của HTKSNB là hệ thống những quy định tài chính và quy định phi tài chính do các nhà quản lý lập ra để điều hành và quản lý toàn bộ hoạt động của toàn doanh nghiệp theo một cách có trình tự và hiệu quả, đảm bảo tuân thủ pháp luật. Trách nhiệm của Hệ thống Kiểm soát nội bộ Trong một doanh nghiệp, ban Giám đốc có trách nhiệm điều hành các hoạt động nhưng trên họ còn có hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị có chức năng thay mặt cho HĐCĐ để lãnh đạo, chỉ đạo và giám sát toàn bộ hoạt động của đơn vị. Các thành viên trong HĐQT cần phải khách quan và có năng lực.
Họ phải hiểu biết các hoạt động và môi trường hoạt động của đơn vị, biết sắp xếp thời gian cần thiết để hoàn thành được trách nhiệm của mình. Trong nhiều trương hợp, do thiếu năng lực hoặc kinh nghiệm mà ban Giám đốc có thể rơi vào tình trạng kiểm soát chồng chéo, hoặc không kiểm soát đươc những hoạt động diễn ra tại đơn vị. Trong một tình huống khác, Ban Giám đốc có thể không trung thực, cố tình xuyên tạc các kết quả hoạt động trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình để đạt được các mục tiêu cá nhân. Để tránh tình trạng trên, một HĐQT mạnh mẽ, năng động là phải biết kết hợp các kênh thông tin khác nhau để có thể nhận biết các vấn đề đó và có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.
Đối với nhà Quản lý, họ là người chịu trách nhiệm về hệ thống KSNB vì vậy họ phải hiểu rõ ảnh hưởng của sự trung thực, giá trị đạo đức và các yếu tố khác trong môi trường kiểm soát đến toàn hệ thống. Trong các đơn vị lớn, nhà quản lý cao cấp chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ huy các nhà quản lý cấp trung gian và soát xét cách thức họ điều hành kinh doanh. Kế tiếp, người quản lý ở từng cấp chịu trách nhiệm thiết kế các chính sách, thủ tục kiểm soát trong chức năng của họ. Trong các đơn vị nhỏ, việc điều hành thường do người chủ sở hữu, đồng thời là người quản lý đơn vị.
Các bộ phần cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ Theo COSO, hệ thống KSNB bao gồm 5 bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là: ➢ Môi trường kiểm soát: 9 Là nền tảng ý thức, là văn hóa của tổ chức tác động đến ý thức kiểm soát của toàn bộ thành viên trong tổ chức. Môi trường kiểm soát là nền tảng cho bốn bộ phận còn lại của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp đó được thể hiện thông qua tính kỷ luật, cơ cấu tổ chức, giá trị đạo đức, tính trung thực, triết lý, quản lý, phong cách điều hành… Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, tác động đến ý thức của mọi người trong đơn vị, là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống kiểm soát nội bộ. Môi trường kiểm soát chịu ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử của tổ chức và ngược lại nó lại ảnh hưởng đến ý thức của cá nhân, của tổ chức đó.