Phần mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu và kỹ thuật nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu. Trình bày các khái niệm về thuế và tuân thủ thuế; Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc khai sai thu nhập tính thuế của các DN và tình hình các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc có liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Thực trạng gian lận trong khai báo thuế TNDN của các DN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp. Trình bày những khuyến nghị nhằm kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN của các DN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Phần kết luận: Kết luận và khuyến nghị chính sách. Những hạn chế của đề tài và đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chƣơng 1. KHUNG LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƢỜI NỘP THUẾ 1. LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ 1. Khái quát về lý thuyết hành vi dự định Lý thuyết về hành vi dự định đƣợc phát triển bởi Ajzen (1991), cho thấy hành vi của một ngƣời đƣợc khuyến khích bởi ba yếu tố.
Yếu tố đầu tiên là niềm tin hành vi, đây là niềm tin vào kết quả và đánh giá kết quả. Sự tự tin và đánh giá kết quả sẽ hình thành một thái độ bất định đối với một hành vi nhất định. Thứ hai là niềm tin chuẩn mực, đây là một niềm tin cá nhân vào những kỳ vọng chuẩn mực của những ngƣời khác nhƣ gia đình, bạn bè, lãnh đạo công ty, cán bộ thuế và tƣ vấn thuế. Kỳ vọng chuẩn mực hình thành một chuẩn mực chủ quan của một hành vi.
Thứ ba là niềm tin kiểm soát, đây là niềm tin cá nhân về sự tồn tại của những thứ khuyến khích hành vi và nhận thức của họ về việc hai điều đó ảnh hƣởng đến hành vi của họ mạnh mẽ nhƣ thế nào. Kiểm soát niềm tin hình thành một kiểm soát hành vi nhận thức. Về lý thuyết hành vi dự định, ai đó sẽ xem xét những thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức trong việc xây dựng ý định tuân thủ quy tắc (Ajzen, 1991). Lý thuyết về hành vi dự định đã thâm nhập vào các lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả thuế.
Một số nhà nghiên cứu chứng minh rằng về mặt thực nghiệm, thái độ tuân thủ thuế, chuẩn mực chủ quan, hành vi nhận thức và nhận thức của ngƣời nộp thuế đối với chính phủ có ảnh hƣởng nhất định đến ý định tuân thủ nghĩa vụ thuế (Damayanti và cộng sự, 2015). Nhận thức về kiểm soát hành vi có tác động trực tiếp nhƣng không đáng kể đến việc tuân thủ thuế, nhƣng nhận thức về kiểm soát hành vi có tác động tích cực đáng kể đến ý định. Nghiên cứu thực nghiệm của Aryati (2012) khẳng định rằng thái độ lạc quan của ngƣời nộp thuế có tác động tích cực đến việc tuân thủ thuế. Nghiên cứu đƣợc thực hiện bởi Bobek và Hatfield (2003), chứng minh bằng thực nghiệm rằng sự chủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 quan và kiểm soát hành vi nhận thức là các biến số ảnh hƣởng đến việc tuân thủ thuế.
Trong khi đó, Benk và cộng sự (2012) không thể chứng minh bằng thực nghiệm rằng thái độ có ảnh hƣởng tích cực đến việc tuân thủ thuế. Trivei và Shehata (2005), Langham và cộng sự (2012) cũng không có khả năng chứng minh bằng thực nghiệm rằng kiểm soát hành vi nhận thức có tác động tích cực đến việc tuân thủ thuế. Nhận thức xã hội của doanh nghiệp trong việc nộp thuế sẽ ảnh hƣởng đến việc tuân thủ thuế. Các nghiên cứu trƣớc đây liên quan đến nhận thức xã hội đã đƣợc Gangl và cộng sự (2015), Jimenez và Iyer (2016), cũng nhƣ Calvet và Alm (2014), chứng minh bằng thực nghiệm rằng sự hiểu biết trong hợp tác trong xã hội có thể là một cách để một công ty khuyến khích hợp tác tự nguyện và cam kết đảm bảo nguồn cung cấp công cộng.
Jimenez và Iyer (2016) giải thích ảnh hƣởng của chuẩn mực xã hội đối với việc tuân thủ thuế thông qua nội bộ hóa cá nhân. Sự xuất hiện của sự cảm thông, cũng nhƣ sự đồng cảm, cũng có thể khuyến khích tuân thủ thuế (Calvet và Alm, 2014). Quan hệ giữa thái độ, ý định hành vi và tuân thủ thuế Ajzen (2005) coi thái độ là những khuynh hƣớng thuận lợi hoặc bất lợi cho các đối tƣợng, con ngƣời, tổ chức hoặc sự kiện. Theo lý thuyết về hành vi dự định, thái độ cá nhân đối với hành vi bắt nguồn từ niềm tin về hậu quả của hành vi nói trên, cụ thể là niềm tin hành vi.
Tuân thủ thuế rất quan trọng đối với phúc lợi xã hội (Hình 1. Tuân thủ Nguồn thu chính Tiền thuế của Tiền thuế của Chi tiêu của thuế của quốc gia chính phủ địa phƣơng địa phƣơng Phúc lợi xã hội Hình 1.1: Mối quan hệ giữa tuân thủ thuế và phúc lợi xã hội Nguồn: Nurwanah và cộng sự (2018) Các yếu tố quyết định ý định liên quan đến yếu tố cá nhân là thái độ đối với TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hành vi cá nhân (Hartono, 2008). Nghiên cứu đƣợc thực hiện bởi Ozer và Yilmaz (2011) cho thấy thái độ có khả năng dự đoán tốt hơn so với tiêu chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức. Hidayat và Nugroho (2010), Aryati (2012) đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng thái độ tích cực có ảnh hƣởng tốt đến ý định tích cực.
Thái độ tích cực giúp cho ngƣời nộp thuế nhận thấy phải tuân thủ các nghĩa vụ thuế, ý định thúc đẩy họ càng lớn. Một nghiên cứu khác đƣợc thực hiện bởi Mustikasari (2008) chỉ ra rằng nếu thái độ của không tuân thủ càng lớn thì ý định không tuân thủ sẽ cao. Nhƣ vậy, thái độ tích cực sẽ làm gia tăng ý định tuân thủ thuế. Quan hệ giữa chuẩn mực chủ quan, ý định hành vi và tuân thủ thuế Ajzen và Fishbein (1980) cho rằng chuẩn mực chủ quan khơi dậy ý định dựa trên áp lực xã hội để tham gia hoặc không tham gia vào hành vi.
Chuẩn mực chủ quan là một chức năng của những kỳ vọng đƣợc tạo ra bởi các cá nhân trong đó một hoặc nhiều ngƣời xung quanh họ (anh chị em, đồng nghiệp) chấp thuận một hành vi nhất định và thúc đẩy cá nhân tuân thủ (Ajzen, 1991). Chuẩn mực chủ quan đƣợc xây dựng thông qua sự ảnh hƣởng của những ngƣời xung quanh, của bạn bè, của các chuyên gia tƣ vấn thuế, của những ngƣời khai thuế, của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Khi các chuẩn mực chủ quan lớn hơn sẽ làm tăng những ngƣời không tuân thủ thuế (Mustikasari, 2008). Bobek và Hatield (2003) cho thấy rằng tiêu chuẩn chủ quan có ảnh hƣởng cùng chiều đối với các ý định không tuân thủ thuế.
Trong thực tế, một nhân viên của doanh nghiệp có thái độ tuân thủ thuế, hƣớng tới ý định tuân thủ thuế, nhƣng lãnh đạo của doanh nghiệp không ủng hộ thái độ của ngƣời nhân viên, sau đó, ý định tuân thủ thuế của ngƣời nhân viên có thể thay đổi hoàn toàn theo cách ngƣợc lại (Bobek và Hatield, 2003; Mustikasari, 2008). Nhƣ vậy, các chuẩn mực chủ quan có tác động cùng chiều đến ý định hành vi của ngƣời nộp thuế. Nhận thức xã hội, ý định hành vi và tuân thủ thuế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Vai trò của ngƣời nộp thuế nên đƣợc phát triển bằng cách tăng nhận thức cộng đồng về nghĩa vụ nộp thuế. Thông số thành công của một công ty theo quan điểm nhận thức xã hội là ƣu tiên các nguyên tắc đạo đức, cụ thể là đạt đƣợc kết quả tốt nhất mà không gây tổn hại cho các nhóm ngƣời khác.
Các công ty làm việc bằng cách đƣa ra các nguyên tắc đạo đức và đạo đức sẽ cung cấp các lợi ích lớn nhất cho xã hội. Nhận thức xã hội của công ty trong việc nộp thuế sẽ có tác động đến việc tuân thủ thuế. Freeman và McVea (2001) đã đề xuất rằng một nhóm hoặc một cá nhân có thể đối mặt những điều không may của tổ chức trong việc thực hiện các mục tiêu. Quan hệ hợp đồng giữa ngƣời nộp thuế và chính phủ trong việc nộp thuế đã gián tiếp giúp ích cho xã hội.
Vì vậy, nhận thức xã hội của ngƣời nộp thuế cao hơn sẽ làm tăng ý định của các chuyên gia thuế để hành xử tuân thủ 1. Nhận thức xã hội và tuân thủ thuế Freeman và McVea (2001) cho rằng các cổ đông, nhƣ một nhóm hoặc cá nhân, có thể ảnh hƣởng hoặc chịu ảnh hƣởng nỗ lực của tổ chức trong việc thực hiện những mục tiêu của họ. Các cổ đông là những ngƣời có mối quan hệ hợp đồng với doanh nghiệp thậm chí có thể bị ảnh hƣởng mạnh bởi các hành động của những tổ chức khác, mặc dù những tổ chức này không có mối quan hệ hợp đồng với doanh nghiệp mà cổ đông này đang tham gia. Hợp đồng giữa một doanh nghiệp nộp thuế với chính phủ, xã hội đƣợc thể hiện ở Hình 1.
Xã hội Chính phủ Doanh nghiệp Hình 1.2: Mối quan hệ giữa doanh nghiệp nộp thuế, chính phủ và xã hội Nguồn: Gudono (2016) Môi trƣờng thân thiện mang lại ảnh hƣởng sống còn cho việc xác định mức độ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nhận thức xã hội. Môi trƣờng xã hội là nơi tổ chức phát triển. Điều này xảy ra bởi vì có những giá trị về nhận thức xã hội trong môi trƣờng. Giá trị cộng sinh sẽ khiến ngƣời nộp thuế phải luôn luôn giúp đỡ và hỗ trợ ngƣời khác.
Gangl và Kirchler (2015) đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng sự hiểu biết hợp tác trong các tình huống khó xử xã hội có thể đƣợc cơ quan có thẩm quyền sử dụng để khuyến khích hợp tác tự nguyện và cam kết đảm bảo cung cấp hàng hóa công cộng. Ngoài ra, sự hiện diện của sự cảm thông và đồng cảm có một tác động tích cực về tuân thủ thuế (Calvet và Alm, 2014). Vì thế, nhận thức xã hội của ngƣời nộp thuế có tác động tích cực đến việc tuân thủ thuế. LÝ THUYẾT VỀ GIAN LẬN THUẾ TNDN 1.