Phần Mở đầu, Phần Nội dung và Phần Kết luận. Trong đó, Phần Nội dung sẽ đƣợc chia thành hai (02) chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I. Lý luận chung về nhóm công ty và vấn đề kiểm soát giao dịch giữa các công ty trong nhóm công ty. Chƣơng II.
Quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề kiểm soát giao dịch giữa các công ty trong nhóm công ty – Thực trạng và hƣớng hoàn thiện. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÓM CÔNG TY VÀ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH GIỮA CÁC CÔNG TY TRONG NHÓM CÔNG TY 1.1 Lý luận chung về nhóm công ty và thành viên nhóm công ty 1.1 Khái niệm “nhóm công ty” và “công ty mẹ”, “công ty con” 1.1 Khái niệm “nhóm công ty” a) Khái niệm “nhóm công ty” theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới Ở một số quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới, nhóm công ty đã dần hình thành và bắt đầu có những bƣớc phát triển rõ nét từ những năm nửa cuối 3 thế kỷ XIX. Với nhiều lợi thế và hiệu quả kinh tế mà công ty thành viên của nhóm công ty có thể đạt đƣợc, việc thành lập nhóm công ty càng trở nên phổ biến và còn là yếu tố quan trọng góp phần làm nên sự tăng trƣởng nhanh chóng của nền kinh tế một số quốc gia, tiêu biểu nhƣ Nhật Bản (đƣợc biết đến với thời kỳ “Thần kỳ Nhật Bản”). Chính quá trình phát triển ngày càng mạnh mẽ của nhóm công ty ở những quốc gia phát triển đã đặt ra yêu cầu các quốc gia này phải xây dựng và không ngừng hoàn thiện hành lang pháp lý để điều chỉnh, kiểm soát chặt chẽ việc thành lập, hoạt động của nhóm công ty từ khá sớm.
Tuy nhiên, liên quan đến việc nhận diện mô hình nhóm công ty, không ít các quốc gia lại không đƣa ra định nghĩa cụ thể về khái niệm “nhóm công ty” mà chủ yếu tập trung vào các quy định điều chỉnh và giám sát mối quan hệ giữa các công ty thành viên trong nhóm công ty. Cụ thể, tại Hoa Kỳ, mặc dù là quốc gia nơi nhóm công ty có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời trên thế giới, pháp luật Hoa Kỳ không đƣa ra khái niệm 4 pháp lý thống nhất cho nhóm công ty. Tại Nhật Bản, Luật Công ty 2005 cũng không đƣa ra khái niệm nhóm công ty mà chỉ định nghĩa khái niệm “công ty mẹ” và 5 “công ty con”. Thay vào đó, Luật Công ty hiện hành của Nhật Bản tập trung xây dựng các cơ sở pháp lý giúp nhận diện mối quan hệ công ty mẹ – công ty con và quy định điều chỉnh các hoạt động, giao dịch đƣợc tiến hành giữa công ty mẹ với các công ty con, giữa các công ty con có cùng công ty mẹ với nhau.
3 Lê Minh Hƣơng, “Mô hình tập đoàn kinh tế tại một số nƣớc và gợi ý cho Việt Nam”, https://www.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/nckh/ctnc/nckhctnc_chitiet?dDocName=MOFUCM2 03333&_afrLoop=343345830423241, truy cập ngày 29/6/2021. 4Virginia Harper Ho (2012), “Theories of Corporation Groups: Corporation Identity Reconceived”, Seton Hall Law Review, Vol. 5 Luật Công ty Nhật Bản 2005 (Japan Companies Act of 2005); Sắc lệnh về thực thi Luật Công ty Nhật Bản 2006, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2018 (Regulation for Enforcement of the Companies Act 2006). 6 Mặc dù pháp luật không quy định nhƣng ở góc độ nghiên cứu, nhiều học giả nƣớc ngoài cũng đã đƣa ra một số định nghĩa “nhóm công ty” nhằm xác định những thành tố quan trọng của khái niệm “nhóm công ty”.
Trong đề tài nghiên cứu của mình, tác giả Virginia Harper Ho định nghĩa “nhóm công ty” khá hẹp, đó là một hình thức tổ chức kinh tế gồm nhiều thực thể pháp lý liên kết với nhau bởi việc sở 6 hữu và kiểm soát chung ở một mức độ, tỷ lệ nào đó. Một học giả khác là Paul Didier cũng đã đƣa ra một định nghĩa chi tiết hơn, rằng nhóm công ty là một tập hợp của nhiều công ty khác nhau, tùy thuộc vào hình thức kiểm soát trực tiếp, gián tiếp, độc quyền hoặc đồng kiểm soát bởi các công ty nhất định trong nhóm mà các công ty đó sẽ bị kiểm soát bởi công ty ở bậc cao hơn trong hệ thống phân tầng của nhóm vốn bị chi phối toàn bộ bởi một công ty mẹ đƣợc sở hữu bởi nhà đầu tƣ, Nhà nƣớc. và toàn bộ việc hình thành nhóm công ty chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc 7 vốn. Một số định nghĩa mà các học giả đƣa ra nhƣ trên dù chƣa đủ khái quát để đƣợc tiếp thu, ghi nhận thống nhất trong các điều khoản của luật nhƣng mặt khác đã mang lại nhiều giá trị khoa học trong việc đề xuất cách tiếp cận phù hợp và cơ chế điều chỉnh hiệu quả hơn đối với nhóm công ty theo quy định pháp luật.
Nhƣ vậy, theo hƣớng quy định của một số quốc gia phát triển trên thế giới nhƣ Hoa Kỳ và Nhật Bản, khái niệm “nhóm công ty” không nhất thiết phải đƣợc ghi nhận định nghĩa trong các đạo luật. Bởi lẽ, nhóm công ty đƣợc hình thành từ thực tiễn thƣơng mại và mang đặc trƣng của một khái niệm về kinh tế hơn là một khái niệm pháp lý. Yêu cầu quan trọng đặt ra cho pháp luật về doanh nghiệp của các quốc gia chính là tập trung cho xây dựng cơ chế điều chỉnh, kiểm soát mối quan hệ 8 và việc thực hiện các giao dịch giữa các công ty trong nhóm công ty. b) Khái niệm “nhóm công ty” theo pháp luật Việt Nam Luật Doanh nghiệp đƣợc xây dựng, ban hành và áp dụng với tƣ cách là một “luật chung” về doanh nghiệp điều chỉnh vấn đề thành lập, tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp nói chung và chỉ khi luật khác có quy định đặc thù về các hoạt động 9 liên quan đến doanh nghiệp thì mới áp dụng quy định của luật đó.
Gần đây, Luật Doanh nghiệp 2020 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 17/6/2020 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 đã thay thế cho Luật Doanh nghiệp 2014 sau hơn sáu (06) năm thi 6 Virginia Harper Ho, tlđd (4), tr. 7 Maggy Pariente (2007), “The Evolution of the Concept of Corporate Group In France”, European Company and Financial Law Review, Vol. 8Lê Trần Quỳnh Thy (2016), Vấn đề kiểm soát giao dịch giữa các công ty trong nhóm công ty theo luật doanh nghiệp 2014, Khóa luận tốt nghiệp, Trƣờng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr.
9 Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 1, Điều 3. Tƣơng tự nhƣ Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp mới tiếp tục dành riêng Chƣơng VIII gồm bốn (04) điều khoản để quy định một cách tập trung về nhóm công ty và các giao dịch giữa các công ty thành viên trong nhóm. Kế thừa quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 không đƣa ra định nghĩa chính thức cho thuật ngữ “nhóm công ty” mà chỉ định nghĩa “tập đoàn kinh tế, tổng công ty” – hai hình thức của nhóm công ty đƣợc pháp luật hiện hành ghi nhận. Trƣớc đó, định nghĩa “nhóm công ty” đã từng đƣợc ghi nhận tại khoản 1 Điều 146 Luật Doanh nghiệp 2005 nhƣ sau: “Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.” Mặc dù định nghĩa này đã gọi tên và mô tả cơ bản về nhóm công ty nhƣng quy định này lại không mang đến nhiều ý nghĩa ở góc độ pháp lý.
Đồng thời, cách định nghĩa “nhóm công ty” nhƣ trên cũng không thực sự rõ ràng khi sử dụng cụm từ mang tính chất định tính nhƣ “mối quan hệ gắn bó lâu dài” và liệt kê các khía cạnh rất rộng mà các công ty “gắn bó lâu dài” về “lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trƣờng”, “các dịch vụ kinh doanh khác”. Vì vậy, Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Doanh nghiệp 2020 không tiếp tục giữ quy định về định nghĩa “nhóm công ty” này và đƣa ra định nghĩa của “tập đoàn kinh tế, tổng công ty”. Tại Điều 194, Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “1. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác.
Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập theo quy định của Luật này. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty có công ty mẹ, công ty con và các công ty thành viên khác. Công ty mẹ, công ty con và mỗi công ty thành viên trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty có quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp độc lập theo quy định của pháp luật.” Nhƣ vậy, về mặt câu chữ, tập đoàn kinh tế và tổng công ty đƣợc hiểu là các tổ hợp nhiều công ty độc lập khác nhau nhƣng lại có sự liên kết với nhau bởi yếu tố sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc gắn bó với nhau bởi liên kết khác. Và thuật ngữ “nhóm công ty” đƣợc đề cập trong quy định trên với vai trò làm rõ đặc điểm “là tổ hợp các công ty độc lập với nhau” của tập đoàn kinh tế và tổng công ty.
8 Bên cạnh đó, theo quan điểm của nhiều học giả, quy định này còn khái quát cách hiểu và đã gián tiếp phân loại nhóm công ty. Dù luật không trực tiếp định nghĩa “nhóm công ty” chỉ bao gồm tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhƣng với cách quy định nhƣ vậy, có thể hiểu Luật Doanh nghiệp 2020 đã giới hạn đối tƣợng điều 10 chỉnh chỉ bao gồm hai loại nhóm công ty là tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Nhóm công ty theo đó đƣợc hiểu là tổ hợp bao gồm các công ty độc lập về mặt pháp lý và có mối liên kết chặt chẽ với nhau thông qua việc sở hữu cổ phần, phần vốn góp. Vì cơ sở hình thành là dựa trên mối quan hệ về sở hữu và liên kết khác giữa các công ty, nhóm công ty không đƣợc xem một loại hình doanh nghiệp và 11 không phải thực hiện đăng ký theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, theo quan điểm của tác giả, với quy định tại Điều 194 Luật Doanh nghiệp 2020, pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam đã có cách tiếp cận nhóm công ty phù hợp với hƣớng quy định chung của một số quốc gia trên thế giới là không đƣa ra một định nghĩa cụ thể cho “nhóm công ty”. Dù không trực tiếp đƣa ra khái niệm “nhóm công ty” nhƣng Luật Doanh nghiệp đã khái quát đƣợc đặc trƣng của nhóm công ty và đồng thời, gián tiếp phân loại thành hai hình thức nhóm công ty là tập đoàn kinh tế và tổng công ty.