CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 SỰ CẦN THIẾT KIỂM SOÁT CHI PHÍ TRONG MỘT DOANH NGHIỆP Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Tất cả các nhà quản trị đều có trách nhiệm trong tiến trình kiểm soát cho dù các bộ phận của họ có được thi hành tốt như kế hoạch đề ra hay chưa. Các nhà quản trị không thể thật sự hiểu hết các bộ phận của họ đã được thực hiện đúng hay chưa cho đến khi họ đã đánh giá những hoạt động nào đã hoàn thành và so sánh kết quả thực tế với tiêu chuẩn đã được đề ra trước đó. Sau khi các mục tiêu đã được xác lập, các kế hoạch đã được hoạch định, cơ cấu tổ chức được xác định và nhân viên được tuyển dụng, đào tạo và khuyến khích làm việc thì sai sót vẫn có thể xảy ra.
Để đảm bảo cho mọi việc đi đúng hướng, nhà quản trị phải giám sát và đánh giá kết quả công việc. Kết quả thực tế phải được so sánh với những mục tiêu đã xác lập trước đó để nhà quản trị có thể đưa ra những hoạt động cần thiết, đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức đi đúng quỹ đạo. Quá trình giám sát, so sánh và hiệu chỉnh là những nội dung của chức năng kiểm soát. Theo Trương Quang Dũng (Quản trị học – trang 86, 2017) định nghĩa: Kiểm soát là quá trình xác định thành quả đạt được trên thực tế và so sánh với những tiêu chuẩn nhằm phát hiện sự sai lệch và nguyên nhân sự sai lệch, trên cơ sở đó đưa ra biện pháp điều chỉnh sự sai lệch để đảm bảo tổ chức đạt được mục tiêu.
Kiểm soát trong quản lý là quá trình trong đó chủ thể kiểm soát (các nhà quản lý) tác động lên các thành viên của đơn vị hay tổ chức để thực hiện các kế hoạch, mục tiêu của tổ chức đó. Do đó, kiểm soát trong quản lý không chỉ là một công cụ nhằm giám sát tình hình kinh doanh. Nó còn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới mức độ hài lòng và gắn kết của nhân viên với công việc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Đối với những nhà quản trị thì việc quản lý các chi phí phát sinh trong doanh nghiệp sao cho có hiệu quả luôn là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra.
Do đó, vấn đề được đặt ra là làm sao để có thể hoạch định và kiểm soát được tốt các khoản chi phí. Nhận diện, phân tích các hoạt động làm phát sinh ra chi phí là điều mấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, chi phí được hiểu là một nguồn lực bị mất đi để đạt được một mục đích cụ thể. Bản chất của chi phí là hao phí nguồn lực tính bằng tiền để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ hoặc đổi lấy kiến thức, niềm vui,.
Theo Nguyễn Thị Loan (Kế toán quản trị - trang 62, 2013), chi phí là biểu hiện bằng tiền của những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Như vậy, kiểm soát chi phí là quá trình kiểm soát chi tiêu trong giới hạn ngân sách bằng việc giám sát và đánh giá quá trình sử dụng chi phí đó trong một khoảng thời gian dài, có thể là vài tháng, một năm hoặc vài năm,. tùy tần suất xuất hiện của loại chi phí và cách thức sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp đã đạt hiệu quả hay chưa, từ đó nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định tăng giảm phù hợp để đạt hiệu quả cao khi sử dụng các nguồn lực này. Nếu các tổ chức thực hiện tốt nội dung này thì góp phần vào việc cải thiện tốt hơn cho doanh nghiệp ở một số vấn đề sau: - Thông qua việc kiểm soát chi phí giúp cho doanh nghiệp thực hiện giám sát sự hình thành chi phí, chi tiêu chi phí trong suốt quá trình hoạt động trong phạm vi ngân sách đã có và lưu ý đúng lúc vào các vấn đề có thể xảy ra nhằm có các biện pháp giải quyết hay giảm thiểu chi phí nhằm đảm bảo chi phí hoạt động nằm trong ngân sách đã được chấp thuận; - Kiểm soát chi phí giúp bảo đảm đúng giá trị cho đồng tiền của chủ doanh nghiệp bỏ ra phù hợp cho mục đích sử dụng, cân bằng giữa doanh thu và chi phí, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Một trong những mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là tối ưu hóa lợi nhuận vì vậy sự tăng hay giảm chi phí có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục kiểm soát chi phí. Khác với giảm chi phí mang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tính máy móc, cơ học, kiểm soát chi phí là một chức năng quản trị có ý thức đòi hỏi phải duy trì đều đặn và cần có thông tin dưới các hình thức phân loại chi phí để kiểm soát; - Nhận thức và thấu hiểu các phân loại và ứng xử đối với từng loại chi phí là chìa khóa của việc đưa ra những quyết định đúng trong quá trình tổ chức, điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản trị sẽ lựa chọn cơ cấu chi phí sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất. Hiểu được các loại chi phí, các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí, doanh nghiệp có thể kiểm soát được chi phí, từ đó tiết kiệm chi phí, chi tiêu sẽ hiệu quả hơn và sau cùng là tăng lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp theo đó cũng tăng lên. Tuy nhiên, không phải lãnh đạo doanh nghiệp nào cũng biết cắt giảm chi phí sao cho hiệu quả.
Một số doanh nghiệp tìm cách giảm đều mọi khoản chi tiêu, số khác lại nhắm vào khu vực tiêu hao nhất. Những cách làm này có tác động trong ngắn hạn và gây hại cho vị thế và tăng trưởng về lâu dài của doanh nghiệp. Cách nhận định đúng đắn về cắt giảm chi phí là hãy nhắm đến các năng lực hoạt động cần thiết và đầu tư vào những năng lực nào chắc chắn sẽ mang đến lợi thế trong tiếp cận nhóm khách hàng doanh nghiệp quan tâm nhất.2 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm chi phí trong ngân hàng thương mại Theo Nghị định 93/2017/NĐ-CP ngày 07/08/2017 về “Chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại Tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và tổ chức tín dụng có vốn Nhà nước”, chi phí trong NHTM được định nghĩa “Chi phí của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là các khoản chi phí thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí; có đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ theo quy định của pháp luật. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được hạch toán vào chi phí các khoản chi do các nguồn kinh phí khác đài thọ.
Việc xác định và hạch toán chi phí được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực kế toán Việt Nam và các quy định của pháp luật có liên quan.” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Nội dung các khoản chi phí trong ngân hàng rất phong phú và đa dạng bao gồm chi phí hoạt động kinh doanh và chi phí khác. - Chi phí hoạt động kinh doanh: bao gồm chi trả lãi tiền gửi, tiền vay, chi về kinh doanh ngoại tệ, vàng, chi cho hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng, chi cho việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác, chi cho hoạt động mua bán nợ, chi cho hoạt động góp vốn, mua cổ phần, chi về chênh lệch tỷ giá, chi cho thuê tài sản, chi khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương, chi dịch vụ thuê ngoài, chi phí nộp thuế, phí, chi các khoản đã hạch toán doanh thu nhưng thực tế không thu được, chi phí khác; - Chi phí khác: bao gồm chi nhượng bán, thanh lý tài sản, giá trị còn lại của tài sản cố định sau khi nhượng bán, thanh lý, chi cho việc thu hồi các khoản nợ đã xóa, chi phí thu hồi nợ quá hạn khó đòi, chi tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, chi xử lý khoản tổn thất tài sản còn lại sau khi đã bù đắp bằng các nguồn theo quy định, chi các khoản đã hạch toán vào doanh thu nhưng thực tế không thu được, các khoản chi hợp lý, hợp lệ khác.2 Đặc điểm chi phí trong ngân hàng thương mại Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính nên kế toán Ngân hàng cũng phản ánh rõ nét tình hình huy động vốn trong các thành phần kinh tế và dân cư (thể hiện trên các tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm…) đồng thời sử dụng tiền đó để cho vay (thể hiện trên các tài khoản cho vay ngắn, trung và dài hạn…). Kế toán ngân hàng có tính giao dịch và xử lý nghiệp vụ ngân hàng (thanh toán, chuyển tiền…), đảm bảo tính cập nhật và chính xác cao độ, có số lượng chứng từ lớn và phức tạp, có tính tập trung và thống nhất cao. Do hệ thống ngân hàng được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương, từ NHNN đến các ngân hàng hệ thống.
Chi phí trong hệ thống NHTM và trong các doanh nghiệp đều có các khoản mục chi giống nhau: chi phí hoạt động quản lý chung (tiền điện, nước, vệ sinh, thuê văn phòng, khấu hao tài sản cố định.), chi trả lương cho nhân viên, chi đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ cho nhân viên, chi nộp bảo hiểm xã hội, chi nộp thuế, nộp phí lệ phí,. Ngoài ra, hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng phức tạp, nhiều tài khoản, và các tài khoản được chi tiết hơn rất nhiều so với kế toán doanh nghiệp, đầu tài khoản loại 8 trong hệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thống tài khoản TCTD.