Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác Kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Chương 2. Thực trạng công tác Kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác Kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước theo hệ thống TABMIS qua Kho bạc Nhà nước Thừa Thiên Huế 6.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chi NSNN cho đầu tư XDCB là khoản chi lớn của Nhà nước (chiếm từ 25- 30% NSNN).Đặc biệt từ năm 2012, BTC áp dụng hệ thống TABMIS phục vụ cho công tác Kiểm soát chi NSNN thì vấn đề này ngày càng được chú trọng. Vì vậy đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học viết về lĩnh vực này: Luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện công tác quản lý chi vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN thuộc Kho bạc Nhà nước”(Vũ Hồng Sơn, 2007). Luận văn đã đưa ra được những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn vốn đầu tư XDCB và quản lý chi vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn KSNN qua KBNN; phân tích, đánh giá những mặt được và chưa được của quản lý vốn 5 đầu tư XDCB đồng thời đề xuất được các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB. Luận văn làm nổi bật các hạn chế trong công tác quản lý chi vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN qua KBNN, nhưng về Kiểm soát chi đầu tư XDCB vẫn còn mờ nhạt.
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh “Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB tại KBNN Đà Nẵng” (Đoàn Kim Khuyên, 2012). Điểm nổi bật của luận văn đã chỉ ra được mức độ hài lòng của các tổ chức, cá nhân giao dịch tại KBNN Đà Nẵng trong hai năm 2009 và 2010. Luận văn thạc sĩ kinh tế “Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà Nước qua Kho bạc Nhà nước Ba Đình” (Trần Xuân Hiệp, 2013). Luận văn đã phân tích được thực trạng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương qua KBNN quận Ba Đình, chỉ rõ kết quả đạt được và hạn chế đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, kiến nghị với các cơ quan chức năng nhằm nâng cao vai trò của KBNN trong việc kiểm soát thanh toán vốn đầu tư nói chung và KBNN Ba Đình nói riêng.
Bản thân tác giả cũng có làm một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường,năm 2011, “ Cải Thiện công tác Kiểm soát chi từ NSNN tại KBNN Thành phố Huế”. Tuy nhiên do phân tích cả ở 2 mảng là chi thường xuyên và Chi đầu tư, nên đề tài chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chứ chưa đi sâu và đưa ra được các giải pháp hoàn thiện công tác Kiểm soát chi NSNN từ các Kho Bạc nhà nước. Như vậy, tác giả nhận thấy rằng, đề tài về Kiểm soát chi tại KBNN nói chung, và về Kiểm soát chi đầu tư XDCB nói riêng là một đề tài không phải là mới và được nghiên cứu đã nhiều năm. Tuy nhiên những đề tài nói trên chỉ dừng lại ở những mảng nghiên cứu khác nhau như có đề tài tập trung vào tìm 6 giải pháp nhưng lại không phân tích rõ về quy trình, có đề tài thì tập trung về mức độ hài lòng của chủ đầu tư và các ban quản lý dự án.
Đặc biệt từ năm 2012 quy trình Kiểm soát chi tại KBNN ít nhiều cũng thay đổi theo chế độ TABMIS mới và chưa thấy có đề tài nghiên cứu theo hướng vận dụng TABMIS. Do đó, tác giả đã chọn đề tài này để thực hiện luận văn thạc sĩ cho mình, cố gắng đi sâu phân tích quy trình, chỉ ra nhưng điểm mới và đưa ra giải pháp hoàn thiện tăng cường kiểm soát chi đầu tư XDCB theo hệ thống TABMIS một cách cụ thể hơn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN VÀ VAI TRÒKIỂM SOÁT CHI VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Khái niệm về vốn Từ điển kinh tế hiện đại có giải thích: "Capital - tư bản/vốn: một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra. Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sau. Vì vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai và sức lao động, những thứ không được coi là do hệ thống kinh tế tạo ra" [33]. Có quan niệm cho rằng vốn có nghĩa là nguồn lực cho sản xuất.
Muốn tiến hành tái sản xuất cần chi phí về đất đai, tài chính (vốn) và lao động. Người ta thường nói: "Lao động là vốn quý". Nhưng sức lao động chỉ trở thành vốn khi nó được sử dụng để sản xuất ra các yếu tố đầu vào cho quá trình tái sản xuất. Vậy vốn là biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư.
Các nguồn lực có thể là của cải vật chất, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động, là các tài sản vật chất khác. Khái niệm về vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản Tuỳ theo phạm vi nghiên cứu mà hình thành nên những khái niệm khác nhau về đầu tư và vốn đầu tư. Với mỗi phạm vi đầu tư lại có một loại vốn đầu tư tương ứng. Đầu tư theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất 8 định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra.
Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động. Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tư. Những kết quả của đầu tư đem lại là sự tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,. của người dân).
Các kết quả đã đạt được của đầu tư đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó. Như vậy, nếu xem xét trên giác độ đầu tư thì đầu tư là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có. Tương ứng với phạm vi đầu tư này có phạm trù vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Về thực chất vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ bao gồm những chi phí làm tăng thêm giá trị tài sản cố định. Như vậy, vốn đầu tư xây dựng cơ bản gồm 2 bộ phận hợp thành: vốn đầu tư để mua sắm hoặc xây dựng mới TSCĐ mà ta quen gọi là vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ. Về nội dung chỉ tiêu: vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ bao gồm chi phí cho việc thăm dò, khảo sát và quy hoạch xây dựng chuẩn bị cho việc đầu tư; chi phí thiết kế công trình; chi phí xây dựng; chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và những chi phí khác thuộc nguồn vốn đầu tư XDCB; chi phí cho việc sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc và máy móc thiết bị, sửa chữa lớn các TSCĐ khác. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là một thuật ngữ đã được sử dụng khá quen 9 thuộc ở nước ta với nội dung bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế.
Khái niệm chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc - "Chi ngân sách Nhà nước bao gồm: các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật"[29]. Như vậy, chi đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN là khoản chi tài chính nhà nước được đầu tư cho các công trình thuộc kết cấu hạ tầng (cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thuỷ lợi, năng lượng, viễn thông…) các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng, các công trình của các doanh nghiệp Nhà nước đầu tư theo kế hoạch được duyệt, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ, nhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích qúa trình vận động vốn của doanh nghiệp và tư nhân nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Thực chất chi đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế quốc dân 1. Khái niệm về Kiểm soát chivốn đầu tƣ xây dựng cơ bản Kiểm soát là bao gồm các hoạt động giám sát quá trình thực hiện, so sánh với các tiêu chuẩn và chọn ra cách thức đúng.
Bản chất cơ bản của kiểm soát còn được hiểu rõ hơn trong các giai đoạn chủ yếu của toàn bộ quá trình quản lý từ việc lập kế hoạch và xây dựng các mục tiêu có liên quan[9]. Do vậy kiểm soát không thể tồn tại nếu không có các mục tiêu. Chức năng kiểm soát 10 tồn tại như một “khâu” độc lập của quá trình quản lý nhưng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó.