phần mở đầu, kết cấu luận văn bao gồm 4 phần với nội dung cụ thể như sau : * Những nghiên cứu thực nghiệm : - Tác giả trình bày những nghiên cứu trong và ngoài nước về mối liên hệ giữa khả năng sinh lợi và quản lý vốn lưu động * Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu : Phần này tác giả trình bày mô hình nghiên cứu ,phương pháp nghiên cứu và cách chọn mẫu. Đồng thời tác giả cũng mô tả cụ thể các biến được sử dụng trong mô hình thông qua phần thống kê mô tả và mối tương quan từng cặp biến với nhau. * Kết quả nghiên cứu : - Phần kiểm định các giả thiết của phương pháp OLS như : kiểm định tính dừng, kiểm định phương sai thay đổi ,tính tự tương quan ,đa cộng tuyến ,được thực hiện khi xác định phương trình hồi quy - Tiếp theo là kết quả hồi quy và kết luận về mối tương quan giữa khả năng sinh lợi được đo bằng tỷ suất lợi nhuận gộp trên tổng doanh thu với kỳ luân chuyển hàng tồn kho , kỳ thu tiền khách hàng , kỳ thanh toán cho nhà cung cấp,kỳ chuyển đổi tiền mặt * Một số giải pháp: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả trình bày một số giải pháp liên quan đến việc quản lý khoản phải thu , quản lý hàng tồn kho II/ NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM : 1- Các nghiên cứu ở nước ngoài Cấu trúc vốn và quản lý vốn là hai mặt có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lợi của công ty. Quản lý vốn lưu động đã được tiếp cận theo nhiều cách .Một số nhà nghiên cứu đã nghiên cứu tác động của việc quản lý hàng tồn kho trong khi đó những tác giả khác nghiên cứu việc quản lý khoản phải trả như thế nào cho tốt nhất để tối đa hóa lợi nhuận.
Theo Deloof ( 2003 ) cách thức quản lý vốn luân chuyển có ảnh hưởng rất quan trọng đến khả năng sinh lợi của công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn luân chuyển ở một mức độ nhất định theo yêu cầu sẽ mang lại một lợi nhuận tiềm tàng rất lớn. Ngoài ra nghiên cứu này cho thấy các công ty lớn tập trung vào quản lý tiền ngày càng nhiều hơn , với doanh thu bán hàng bằng tiền mặt ít hơn , cho nợ nhiều hơn , sẽ có nhiều cơ hội tăng doanh số bán hàng và càng có nhiều khách hàng hơn .Trong khi đó những công ty nhỏ tập trung vào quản lý các khoản đầu tư và ít công ty tập trung vào quản lý tín dụng. Nghiên cứu cũng cho thấy có những công ty phát triển mạnh , quan tâm đến chính sách tín dụng đối với khách hàng một cách miễn cưỡng và họ lại chôn vốn trong hàng tồn kho.
Trong lúc đó tài khoản phải trả sẽ gia tăng vì mối quan hệ tốt hơn với nhà cung cấp. Theo Wilner ( 2000 ) , hầu hết các công ty đều mở rộng việc sử dụng quản trị tín dụng mặc dù chi phí của nó cao hơn và tỷ suất tín dụng nói chung vượt quá 18%. Bên cạnh đó ông ta đã trình bày trong năm 1993 , các công ty Mỹ mở rộng quan hệ tín dụng cho khách hàng lên đến 1,5 ngàn tỷ đôla. Năm 2003, Similarly Deloof ( 2003 ) đã thống kê từ ngân hàng quốc gia của Bỉ vào năm 1997 , tài khoản phải trả chiếm 13% trong tổng số tài sản của họ trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khi tài khoản phải thu và tài khoản hàng tồn kho là 7% và 10%.
Ông Sumer và Wilson ( 2000) có báo cáo là ở nước Mỹ,hơn 80% giao dịch kinh doanh mỗi ngày đều dựa trên quan hệ tín dụng. Có mối quan hệ mạnh mẽ giữa vòng quay của tiền và khả năng sinh lợi. Ba bộ phận cấu thành của vòng chu chuyển tiền ( khoản phải thu , khoản phải trả và hàng tồn kho ) có thể được quản lý theo nhiều cách khác nhau để đạt được khả năng sinh lợi cao nhất hoặc nâng cao sự phát triển của công ty .Đôi khi quan hệ tín dụng là phương tiện để thu hút khách hàng mới. Nhiều công ty sẵn sàng thay đổi những điều kiện tín dụng tiêu chuẩn của họ để có được những khách hàng mới và có được những đơn hàng lớn hơn.
Thêm vào đó , tín dụng có thể khuyến khích việc tăng doanh thu bởi vì nó cho phép khách hàng đánh giá chất lượng trước khi trả tiền. Tuy nhiên nó cũng cho phép từng công ty riêng lẻ thực hiện việc marketing cho công ty của mình thông qua hình thức mở rộng tín dụng. Tuy nhiên bộ phận tài chính của nhiều công ty sẽ đương đầu với vấn đề dòng tiền và khả năng thanh toán khi vốn được tập trung vào khách hàng và hàng tồn kho. Để có được giá trị cao nhất , sự cân bằng sẽ được duy trì trong khoản phải thu , phải trả và hàng tồn kho.
Theo ông Pike R.,Nam Sang Cheng ( 2001 ) quản lý tín dụng sẽ tìm kiếm những khoản phải thu của những danh mục đầu tư an toàn và tiện lợi. Những khoản đầu tư quan trọng vào các khoản phải thu của những công ty lớn , chính sách tín dụng có chọn lọc,có thể có một sự liên hệ mật thiết với giá trị của công ty Quản lý thành công là nguồn gốc dẫn đến khả năng sinh lợi của công ty nhưng thước đo sự quản lý thành công như thế nào từ giai đoạn “trợ cấp tín dụng “ có thể dẫn đến sự gia tăng doanh thu và giá trị cổ phiếu trong khi kèm theo đó khả năng sinh lợi giảm hoặc ngược lại. Kể từ khi vốn luân chuyển được diễn giải tốt nhất bằng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt chúng ta sẽ thử thiết lập mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phương trình đơn giản bao gồm 3 nhân tố quan trọng của việc chu chuyển vốn Nó chỉ ra rằng một công ty có thể bị gián đoạn các hoạt động của nó như thế nào hoặc nó cũng chỉ rõ khoảng thời gian giữa lúc mua hàng và thu tiền bán hàng.
Mức độ tồn kho tốt nhất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lợi vì nó sẽ giải phóng nguồn vốn được đầu tư vào trong vòng quay kinh doanh hoặc mức độ tồn kho gia tăng để đáp ứng nhu cầu sản xuất ngày càng cao. Tương tự, cả 2 chính sách tín dụng đối với nhà cung cấp và tín dụng đối với khách hàng sẽ tác động đến khả năng sinh lợi. Năm 2003, Deloof đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty trên một mẫu gồm 1009 công ty lớn phi tài chính trong giai đoạn từ 1992-1996. Qua phân tích , tác giả đã thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng sinh lợi được đo bằng lợi nhuận gộp ( GROSS OPERATING INCOME ) và vòng chu chuyển của tiền như khoản phải thu và hàng tồn kho.
Ông đề nghị nhà quản lý có thể tăng lợi nhuận bằng cách giảm số ngày phải thu và số ngày tồn kho. Ít công ty có khả năng sinh lợi mong muốn kéo dài hơn nữa các hóa đơn bán hàng của họ. Nhóm tác giả Pedro Juan Garcia – Teruel và Pedro Martinez-Solano đã tiến hành khảo sát 8.872 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha từ năm 1996 đến năm 2002. Mục tiêu nghiên cứu của các tác giả là nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của các công ty vừa và nhỏ trong mẫu nghiên cứu.
Kết qủa nghiên cứu cho thấy các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho công ty bằng cách giảm số ngày thu tiền khách hàng và giảm thời gian tồn kho hàng hóa. Bên cạnh đó, việc rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng làm tăng khả năng sinh lợi của công ty. Quản trị vốn luân chuyển đặc biệt quan trọng trong trường hợp các công ty có qui mô vừa và nhỏ ( công ty có ít hơn 250 lao động , doanh thu ít hơn 40 triệu bảng và vốn chủ sở hữu ít hơn 27 triệu bảng). Hầu hết tài sản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của các công ty này nằm ở dạng tài sản lưu động.
Tương tự, nợ ngắn hạn là một trong những nguồn tài trợ từ bên ngoài chủ yếu của công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối tương quan nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi của các công ty vừa và nhỏ với số ngày phải thu và số ngày tồn kho. Tuy nhiên , nhóm tác giả không thể xác định số ngày phải trả cho người bán ảnh hưởng đến ROA của các công ty đã nghiên cứu như thế nào ? vì mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê khi kiểm soát những vấn đề nội sinh. Hai ông Lazaridis và Tryfonidis trong năn 2006 đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty trên thị trường chứng khoán Athens.
Mẫu nghiên cứu gồm 131 công ty trong thời kỳ từ 2001-2004. Từ kết quả phân tích hồi quy và ma trận tương quan giữa các biến nghiên cứu , tác giả đã nhận thấy có mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi được đo lường bằng tỷ suất lợi nhuận gộp với kỳ chuyển đổi khoản phải thu , kỳ chuyển đổi hàng tồn kho , chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Qua chỉ tiêu khả năng sinh lợi cho thấy cách thức quản lý vốn luân chuyển của công ty , nếu công ty có khả năng sinh lợi thấp sẽ kéo dài hơn thời gian thanh toán các hóa đơn mua hàng nhằm tận dụng nguồn vốn của nhà cung cấp và rút ngắn thời gian thu tiền của khách hàng, để vốn bằng tiền luân chuyển nhanh hơn. Bên cạnh đó mối quan hệ nghịch biến giữa kỳ chuyển đổi hàng tồn kho và khả năng sinh lợi cũng cho thấy: trong trường hợp doanh thu sụt giảm đột ngột kèm theo sự quản trị hàng tồn kho yếu kém sẽ làm cho vốn bị ứ đọng.
Từ đó , các tác giả đã cho thấy rằng các nhà quản lý có thể gia tăng lợi nhuận cho công ty bằng cách quản lý tốt chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và duy trì mức độ hàng tồn kho , công nợ ở mức tốt nhất .