CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 1. Tổng quan lịch sử vấn đề Hiện nay, hoạt động KĐCLGD đã trở nên khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Trong số hơn 200 nước và lãnh thổ trên thế giới tham gia Mạng lưới quốc tế các tổ chức ĐBCL GDĐH (INQAAHE), thì phần lớn đều triển khai các hoạt động KĐCLGD với mục đích quản lý, giám sát và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục. Các tổ chức KĐCLGD của các nước trên thế giới khá đa dạng về mặt sở hữu của Nhà nước, của các hiệp hội hay các tổ chức, cá nhân khác.
Về đối tượng kiểm định chất lượng bao gồm kiểm định chất lượng cấp trường, cấp chương trình đào tạo. Các tổ chức KĐCLGD có thể độc lập hoàn toàn hoặc phụ thuộc vào Nhà nước. Các tổ chức KĐCLGD độc lập trong việc đưa ra các quyết định chuyên môn nhưng vẫn nhận kinh phí của Nhà nước hay phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước. Ở Hoa Kỳ, tất cả các tổ chức KĐCLGD đều không thuộc Nhà nước, còn hầu hết các tổ chức KĐCLGD của các nước khác đi vào hoạt động trong 20 năm gần đây đều do Nhà nước thành lập (Thái Lan, Mông Cổ, Australia, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia), nhưng sau đó trở thành các tổ chức kiểm định độc lập (Australia, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia,…), nhưng vẫn được nhận kinh phí hỗ trợ của Nhà nước (Australia, Ấn Độ, Indonesia).
Hoa Kỳ có 6 tổ chức kiểm định vùng, nhưng hầu như các nước khác, nhất là các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, có xu hướng chỉ có một tổ chức quốc gia KĐCLGD (ví dụ : Thái Lan, Indonesia, Căm-pu-chia). Một số nước khác như Nhật Bản, Phillippines, Malaysia có 2 tổ chức KĐCLGD, một trong số đó đã được thành lập khá nhiều năm trước. Nhưng gần đây, Malaysia đã sáp nhập hai tổ chức lại thành một tổ chức mới. Một số nước có những tổ chức kiểm định của các hiệp hội, tổ chức chuyên môn hoạt động bên 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cạnh các tổ chức quốc gia KĐCLGD nhưng với quy mô nhỏ (ví dụ : Thái Lan).
Mặc dù có những sự khác biệt giữa các hệ thống nhưng các xu thế chung đang được hình thành và có thể thể hiện ở ba mô hình tổ chức hệ thống quốc gia KĐCLGD như sau: Mô hình thứ nhất bao gồm một số tổ chức KĐCLGD độc lập với nhau, có nhiệm vụ triển khai các hoạt động ĐGN và có thẩm quyền công nhận các CSGD và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Mô hình này cần có một tổ chức mang tính hiệp hội để liên kết và để đại diện cho các tổ chức KĐCLGD, qua đó, tạo diễn đàn để các tổ chức này có thể trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Tuy nhiên, theo mô hình này, mỗi liên hệ giữa các tổ chức KĐCLGD khá lỏng lẻo, Nhà nước khó quản lý. Ngoài Hoa Kỳ và Canada, ít nước trên thế giới áp dụng mô hình này.
Mô hình thứ hai, mô hình tập trung cho mỗi hoặc một vài cấp học, ví dụ: tổ chức kiểm định chất lượng GDĐH - TCCN, tổ chức KĐCLGD phổ thông,. Phần lớn các nước sử dụng mô hình này. Hầu hết các nước đều có tổ chức kiểm định chất lượng GDĐH. Tổ chức KĐCLGD của Hiệp hội New England, Hoa Kỳ là một ví dụ về tổ chức KĐCLGD chịu trách nhiệm kiểm định các trường đại học, cao đẳng, trung cấp kỹ thuật, phổ thông,… Mô hình thứ ba, mô hình tập trung cho tất cả các cấp học, ví dụ: tổ chức đánh giá và kiểm định chất lượng các trường mầm non, phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học với sự hỗ trợ của hệ thống các đơn vị ĐGN.
Văn phòng chuẩn quốc gia đánh giá chất lượng giáo dục (ONESQA) của Thái Lan là một ví dụ điển hình cho mô hình này. Tuy nhiên, bên cạnh ONESQA, vẫn còn có các tổ chức kiểm định nghề nghiệp cùng hoạt động với các tôn chỉ, mục đích cụ thể là kiểm định các chương trình giáo dục nghề nghiệp. Mô hình tổ chức của các tổ chức kiểm định cũng khá khác nhau. Hầu hết có tên gọi là tổ chức KĐCLGD (Accreditation agency), nhưng thực chất là một công ty, một số nơi còn gọi là trung tâm.
Các tổ chức KĐCLGD đều có 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội đồng KĐCLGD để phê duyệt các kế hoạch đánh giá và KĐCLGD, phê chuẩn thành phần các đoàn ĐGN, quyết định công nhận hoặc không công nhận các CSGD và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Các tổ chức KĐCLGD có giám đốc điều hành cùng bộ máy giúp việc để trực tiếp triển khai các hoạt động đánh giá và điều hành hoạt động chuyên môn hằng ngày của tổ chức KĐCLGD, đồng thời có đội ngũ chuyên gia đánh giá cơ hữu phối hợp với một hệ thống cộng tác viên để triển khai các hoạt động ĐGN. Hoạt động KĐCLGD của các nước khá khác nhau. Một số nước chỉ kiểm định trường, một số nước khác chỉ kiểm định chương trình, nhưng cũng có những nước đồng thời sử dụng cả kiểm định trường và kiểm định chương trình.
Hoạt động của các tổ chức KĐCLGD cũng tương tự. Đặc biệt, có tổ chức KĐCLGD không trực tiếp kiểm định các CSGD mà chỉ đi kiểm định các tổ chức KĐCLGD khác (ví dụ: Hội đồng kiểm định GDĐH - CHEA, Hoa Kỳ) và cấp phép hoạt động cho các tổ chức KĐCLGD khác (ví dụ : Bộ Giáo dục Hoa Kỳ - US Department of Education hay Hội đồng KĐCLGD của Đức) [23]. Hệ thống Kiểm định chất lƣợng giáo dục tại Việt Nam Kiểm định chất lượng giáo dục là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam. Có thể nói, ở cấp hệ thống, nó được bắt đầu từ khi Phòng kiểm định chất lượng Đào tạo trong vụ Đại học, Bộ GD&ĐT được thành lập từ tháng 01/2002, sau đó được mở rộng cho các cấp học và trình độ đào tạo khác kể từ năm 2003, sau khi Cục Khảo thí và KĐCLGD được thành lập.
Kiểm định chất lượng được đẩy mạnh từ tháng 12/2004 khi Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học được ban hành và được tiếp tục củng cố và phát triển gắn với việc ban hành các quy trình và các tiêu chuẩn kiểm định khác. Tuy nhiên, sự hiểu biết của cán bộ quản lý, GV nói riêng và của xã hội nói chung về kiểm định còn rất hạn chế; nhiều người đang hiểu về vấn đề này theo nhiều cách khác nhau. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hiện nay, Bộ GD&ĐT đang triển khai KĐCLGD theo mô hình được nhiều nước trên thế giới sử dụng, đặc biệt là mô hình kiểm định của Hoa Kỳ: đó là quá trình đánh giá bởi một tổ chức không thuộc các CSGD để công nhận các CSGD và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng Mô hình ĐBCL giáo dục ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều nước trên thế giới có kinh nghiệm triển khai các hoạt động này. Trước hết, nó chịu ảnh hưởng của mô hình ĐBCL của Hoa Kỳ và các nước Bắc Mỹ; chịu ảnh hưởng của các mô hình ĐBCL của các nước Châu Âu là những nước đi trước Việt Nam trong khá nhiều năm để triển khai xây dựng mô hình ĐBCL giáo dục; đặc biệt chịu ảnh hưởng của các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do có nhiều nét tương đồng trong văn hóa nên dễ chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn.
Những ảnh hưởng của các nước khác đến mô hình ĐBCL của Việt nam chủ yếu thông qua sự hỗ trợ hợp tác song phương và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Ngân hành thế giới. Mạng lưới chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương (APQN), SEAMEO và của một số nước như Hoa Kỳ, Australia, Hà Lan. Trong quá trình tiếp cận với nhiều mô hình ĐBCL và KĐCLGD trên thế giới, mô hình ĐBCL giáo dục ở Việt Nam đang từng bước được hình thành, phù hợp với mô hình ĐBCL của nhiều nước trên thế giới, nhất là mô hình của Châu Âu, Châu Á - Thái Bình Dương, AUN, những mô hình được tiếp tục phát triển trên mô hình chung của Châu Âu. Tại Việt Nam, mô hình ĐBCL giáo dục của có 3 cấu phần sau: - Hệ thống ĐBCL bên trong của nhà trường.
- Hệ thống ĐBCL bên ngoài nhà trường (hệ thống ĐGN bao gồm các chủ trương, quy trình và công cụ đánh giá). - Hệ thống các tổ chức ĐBCL (các tổ chức ĐGN và các tổ chức kiểm định độc lập) [24]. Đảm bảo chất lượng bên trong là việc huy động toàn bộ nguồn lực (nhân sự, tài chính, thông tin.) cho việc xây dựng, duy trì và cải tiến chất 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lượng không ngừng theo các mục tiêu và tiêu chuẩn đề ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của cơ sở giáo dục, đặc biệt trong 3 lĩnh vực chính là đào tạo, nghiên cứu và các dịch vụ cho cộng đồng Đảm bảo chất lượng bên ngoài do các đơn vị bên ngoài trường đại học tiến hành để xác định xem cơ sở giáo dục có đạt được các mục tiêu, tiêu chuẩn và tiêu chí đề ra hay không và quan trọng hơn nữa là đưa ra các khuyến cáo để cải tiến chất lượng cho các giai đoạn tiếp theo. Khi nói đến ĐBCL bên ngoài, người ta hay nói đến kiểm định CLGD, thường do một đơn vị độc lập tiến hành để đánh giá một trường ĐH hoặc một chương trình đào tạo khi cơ sở giáo dục hoặc chương trình này đã đạt được chất lượng tương đối cao ĐBCL bên trong và bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trên nhiều khía cạnh: - Khi triển khai hệ thống ĐBCL bên trong, trường đại học hoặc một chương trình đào tạo phải xác định các mục tiêu và tiêu chuẩn rõ ràng.
Bộ tiêu chuẩn này có thể theo quy định của Bộ GD&ĐT hoặc tiêu chuẩn của AUN hoặc một bộ tiêu chuẩn khác được Bộ GD&ĐT công nhận. Khi đơn vị ĐBCL bên ngoài tiến hành đánh giá, đơn vị này sẽ dựa và bộ tiêu chuẩn mà trường đại học đã lựa chọn để xác định xem cơ sở giáo dục đã đạt được các mục tiêu và tiêu chuẩn đề ra hay chưa. - ĐBCL bên ngoài hay đánh giá ngoài chỉ có thể tiến hành được khi cơ sở giáo dục đã có hệ thống ĐBCL bên trong, đã tiến hành tự đánh giá và có báo cáo tự đánh giá đi kèm các minh chứng cụ thể. Dựa vào đó, đơn vị kiểm định CLGD sẽ triển khai các hoạt động khảo sát với nhiều công cụ khác nhau như nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn, quan sát.