Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề lý luận về kĩ thuật dạy học 1. Khái niệm về quan điểm dạy học, phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học cụ thể [6, tr. Chẳng hạn: dạy học hướng vào người học, dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, dạy học phát triển năng lực.
Phương pháp dạy học là những cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu của bài học [6, tr. Chẳng hạn: Phương pháp dạy học trực quan, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề,. Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống/hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ/nội dung cụ thể của bài học [6, tr. Chẳng hạn: kĩ thuật dạy học 321, kĩ thuật dạy học mảnh ghép, kĩ thuật dạy học khăn trải bàn, kĩ thuật dạy học KWLH, kĩ thuật dạy học theo Trạm,.
Mối quan hệ giữa quan điểm dạy học, phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học có thể được thể hiện ở sơ đồ sau: Hình 1. Ba bình diện của phương pháp dạy học 7 Trong 3 bình diện của PPDH thì KTDH là bình diện nhỏ nhất. Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH. Ví dụ: Trong phương pháp thảo luận nhóm có các KTDH như kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh,.
Đặc điểm chung của kĩ thuật dạy học Một số KTDH sẽ có ưu thế và thuận lợi để hình thành và phát triển một loại năng lực nào đó. Chẳng hạn, dạy học giải quyết vấn đề phù hợp với năng lực giải quyết vấn đề toán học, dạy học (bằng) mô hình hoá toán học sẽ phù hợp với năng lực mô hình hoá toán học, dạy học toán qua tranh luận khoa học phù hợp với năng lực giao tiếp toán học,. Do đó, GV cần có sự lựa chọn KTDH phù hợp trong giờ dạy để nhắm đến một hoặc một vài năng lực cụ thể. Bên cạnh đó, GV cần linh hoạt vận dụng KTDH tích cực; kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo với việc vận dụng KTDH truyền thống; kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn.
Phân loại kĩ thuật dạy học Dựa vào nội dung và cách thức sử dụng các KTDH tích cực trong dạy học có thể chia các KTDH tích cực thành 2 nhóm sau: a. Các kĩ thuật tổ chức hoạt động nhóm - Kĩ thuật “Động não” - Kĩ thuật “Thảo luận viết” - Kĩ thuật “XYZ” - Kĩ thuật “Bể cá” - Kĩ thuật “Mảnh ghép” - Kĩ thuật “Khăn trải bàn” - Kĩ thuật “Phòng tranh” - Kĩ thuật “Sơ đồ tư duy” - Kĩ thuật “Ổ bi” - Kĩ thuật “Tia chớp” b. Các kĩ thuật tổ chức hoạt động cá nhân - Kĩ thuật “5W1H” - Kĩ thuật “KWLH” 8 1. Một số kĩ thuật dạy học tích cực Trong dạy học môn Khoa học lớp 4 cần sử dụng phương pháp, KTDH tích cực khác nhau.
Tuy nhiên, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu 3 KTDH tích cực dưới đây. Kĩ thuật Khăn trải bàn a. Khái niệm Kĩ thuật Khăn trải bàn là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm [6, tr. Mục tiêu - Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh.
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh. - Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh [6, tr. Tác dụng đối với HS và GV * Đối với HS - HS được tiếp cận với nhiều giải pháp và chiến lược khác nhau. - Rèn kĩ năng suy nghĩ, quyết định và giải quyết vấn đề.
- Đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như hợp tác. - Phối hợp làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm nhỏ tạo cơ hội cho học sinh học tập có sự phân hóa. - Năng cao mối quan hệ giữa học sinh; tăng cường hợp tác, giao tiếp, học cách chia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau. - Nâng cao hiệu quả học tập [6, tr.
* Đối với GV - Giúp GV quản lí được ý thức và kết quả làm việc của mỗi cá nhân HS, tránh tình trạng trong nhóm chỉ có một số HS làm việc, còn các HS khác thì không. Cách tiến hành - Chia HS thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy (A0,A3 hoặc A2). - Trên giấy chia thành các phần, gồm phần chính giữa và các phần xung quanh. Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm.
Ví dụ nhóm 4 người thì chia thành 4 phần. Mô hình khăn trải bàn - Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ trả lời câu hỏi/nhiệm vụ theo cách nghĩ, cách hiểu riêng rồi viết vào phần giấy của mình trên tờ giấy lớn. - Trên cơ sở ý kiến của mỗi cá nhân, HS thảo luận nhóm, thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy [6, tr. Ưu, nhược điểm * Ưu điểm: - Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực.
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của từng cá nhân HS. - Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS và HS. - Đem lại bầu không khí học tập thoải mái, HS tin tưởng, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập. * Nhược điểm: - Mất thời gian để chuẩn bị giấy cho mỗi lần sử dụng.
- Mất khá nhiều thời gian trong quá trình tổ chức hoạt động nếu GV quản lí không tốt. Lưu ý - Câu hỏi thảo luận là câu hỏi mở. - Trong trường hợp nhóm có số HS đông, không đủ chỗ để viết trên khăn trải bàn thì GV có thể phát cho mỗi HS một mảnh giấy nhỏ để các em ghi ý kiến cá nhân, sau đó ghim hoặc dán vào phần xung quanh của khăn trải bàn. 10 - Trong quá trình thảo luận thống nhất ý kiến, ghim hoặc dán những ý kiến thống nhất vào giữa khăn trải bàn.
Những ý kiến trùng nhau có thể ghim, dán chồng lên nhau. - Những ý kiến không thống nhất, cá nhân có quyền bảo lưu và được giữ lại ở phần xung quanh của khăn trải bàn [6, tr. Tóm lại: Kĩ thuật Khăn trải bàn là một kĩ thuật dạy học đơn giản, dễ thực hiện, có thể sử dụng trong tất cả các bài học, môn học, cấp học cũng giống như dạy học theo nhóm. Việc học theo nhóm nếu tổ chức không tốt có thể dẫn đến tình trạng chỉ có các thành viên tích cực làm việc, các thành viên khác thụ động, ỷ lại, trông chờ như một người ngoài cuộc hoặc như một quan sát viên, dẫn đến hiệu quả học tập không cao.
Kĩ thuật khăn trải bàn đòi hỏi tất cả các thành viên phải làm việc cá nhân, suy nghĩ viết ra ý kiến của mình trước khi thảo luận nhóm như vậy tất cả các thành viên trong nhóm đều có cơ hội chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm của mình, tự đánh giá và điều chỉnh nhận thức của mình một cách tích cực, vì vậy hiệu quả học tập được nâng cao. Khái niệm KWL là một kĩ thuật dạy học do Donna Ogle giới thiệu năm 1986. Trong đó, “K” (Known) – Những điều đã biết; “W” (Want to know) – Những điều muốn biết; “L” (Learned) – Những điều đã học được [6, tr. Xuất phát từ sơ đồ KWL, Ogle bổ sung thêm cột “H” (How can we learn more) – Có thể học thêm như thế nào?, ở cuối bảng với mục đích khuyến khích HS định hướng tìm hiểu/nghiên cứu thêm sau bài học.
Khi đã hoàn tất nội dung ở cột L, HS có thể tìm hiểu thêm về điều muốn biết nhưng chưa có trong nội dung bài học. Các em sẽ nêu biện pháp để tìm kiếm thông tin và ghi vào cột H [6, tr. Mục tiêu - GV biết được vốn kiến thức, kinh nghiệm đã có và nhu cầu của HS về bài học mới. - GV điều chỉnh cách dạy cho phù hợp với nhận thức của HS.
- HS xác định được động cơ/nhiệm vụ học tập. - HS tự giám sát quá trình học của mình. - HS tự đánh giá kết quả học của mình. 11 - GV đánh giá được kết quả của bài học thông qua kết quả tự đánh giá của HS.
- Tạo cơ hội cho HS diễn tả ý tưởng của mình vượt ra khỏi khuôn khổ bài học [6, tr. Tác dụng đối với HS - HS hứng thú, tập trung vào nội dung bài học, xác định được nhiệm vụ học tập, nhu cầu, mong muốn được trang bị thêm hiểu biết, kiến thức, kĩ năng qua bài học. - HS phân tích, đánh giá những kiến thức mới được hình thành và tự thấy được sự tiến bộ của mình sau bài học [6, tr. Cách tiến hành - Sau khi giới thiệu bài học, mục tiêu cần đạt của bài học, GV phát phiếu học tập KWLH.
Học sinh điền thông tin vào phiếu như sau: Tên bài học: Tên học sinh: Lớp: Trường: K W L H (Những điều đã (Những điều (Những điều đã (Có thể học thêm biết) muốn biết) học được sau bài như thế nào?) học) - - - - - - - - - - - - Hình 1. Mô hình phiếu học tập KWLH - Yêu cầu HS suy nghĩ và nêu ra các từ, cụm từ có liên quan đến chủ đề/ nội dung bài học. GV và HS cùng ghi vào cột K. Hoạt động này kết thúc khi HS đã nêu ra tất cả những điều đã biết.
GV lưu ý cần có các câu hỏi để HS động não ví dụ: Ngoài những điều đã biết này, bạn nào có thể bổ sung thêm?. - Sau khi kết thúc cột K, GV hỏi “ Ngoài những điều đã biết, các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề này?”. HS trả lời, cả GV và HS đều ghi vào cột W. Trong thực tế, đôi khi HS sẽ trả lời “Không biết” vì các em chưa xác định được 12 và khi gặp tình huống như vậy GV có thể gợi ý: “Em nghĩ mình sẽ biết thêm được gì sau khi học xong chủ đề này?” - Cuối giờ học, GV yêu cầu HS điền những gì mình học được trong giờ học vào cột L và chia sẻ thảo luận.
- GV khuyến khích HS tìm hiểu/nghiên cứu thêm về những điều các em muốn biết thêm, cách các em sẽ tiếp tục tìm hiểu vào cột H. GV có thể gợi ý: “Em muốn biết thêm điều gì trong bài? Em sẽ làm cách nào để tìm hiểu thêm?” [6, tr.