Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2. Thực trạng hoạt động NCKH của GVT tại Học viện CT - HC KVI Chương 3. Một số đề xuất về chính sách khuyến khích GVT tham gia NCKH tại Học viện CT - HC KVI Phần III.
Kết luận và Khuyến nghị: Luận văn trình bày một số kết luận nghiên cứu, các kiến nghị đối với các cơ quan quản lý khoa học cấp trên và tại Học viện CT - HC KVI. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm công cụ 1. Chính sách và Chính sách KH&CN Chính sách Trên bình diện lý luận và thực tiễn có khá nhiều quan niệm và cách hiểu về chính sách.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Chính sách là sách lược, kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục tiêu nhất định dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”[87, tr. Trong Understanding Public Pulicy, Thomas R. Dye (1984) đưa ra một định nghĩa về chính sách công: ''Chính sách công là điều mà một chính phủ chọn để làm hoặc không làm''. Bên cạnh đó, có rất nhiều khái niệm về chính sách được đưa ra như theo B.
Guy Peters (1990) thì ''Chính sách công là toàn bộ hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của công dân''. [38, tr Comment [PC1]: Phần này có thể xem xét để lọc bỏ 16] Còn William Jenkin (1978) đưa ra định nghĩa chính sách công: Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó. Anderson (2003), mục đích của chính sách là Comment [PC2]: Xem xét lọc bỏ hoặc gộp chung với phần nói về chính sách công để giải quyết những vấn đề thực tiễn trong quá trình chủ thể hoạt động thực hiện mục tiêu: ''Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi, để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm'' .[38, tr 16] Khi nói đến một chính sách là nói đến những yếu tố sau đây: - Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau.
Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. - Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra. - Và như vậy, chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển xã hội. - Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý.
Trong các bài giảng về khoa học quản lý và phân tích chính sách, tác giả Vũ Cao Đàm đã đưa ra định nghĩa: ''Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội'' [38, tr. ''Hệ thống xã hội'' ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường, v. Tôi lấy quan điểm đó làm cơ sở lý luận cho luận văn này.
Chính sách KH&CN Xuất phát từ quan điểm về chính sách, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách, quản lý đã đưa ra một số quan điểm về chính sách KH&CN. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: "Chính sách KH&CN là chính sách, đường lối nghiên cứu KH&CN, kế thừa có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới để một mặt đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, mặt khác chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ và biện pháp tăng cường tiềm lực KH&CN của quốc gia nhằm chuẩn bị tiền đề cho việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại" [86, tr. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đưa ra khái niệm: Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu phát triển quốc gia và nâng cao vị thế quốc gia trên thế giới. Theo quan điểm của tác giả: chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá mà các chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi, kích thích, định hướng hoạt động KH&CN nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển KH&CN.
Chính sách khuyến khích trong NCKH Khoa học Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm khoa học khác nhau, nhưng khoa học thường được phân tích với những đặc điểm cơ bản như: khoa học là một hệ thống tri thức; khoa học là một hoạt động xã hội; khoa học là một hình thái ý thức xã hội; khoa học là một thiết chế xã hội. Theo tác giả luận văn, khoa học là tập hợp những tri thức đã được nghiên cứu, tích lũy, hệ thống hóa về quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy; là tập hợp các phương pháp, phương tiện và lực lượng được ứng dụng vào các quy trình nghiên cứu nhằm đạt được những kết quả thực tiễn. Nghiên cứu khoa học Theo các quan điểm về NCKH, có thể đưa ra một số đặc điểm của NCKH như sau: - NCKH là một dạng hoạt động đặc biệt, là hoạt động nhận thức thế giới có tổ chức, có khoa học do các nhà khoa học thực hiện. - Đối tượng của NCKH là một sự kiện, hiện tượng thế giới khách quan mà loài người chưa đủ kiến thức để giải thích.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Mục đích của NCKH là phát hiện ra bản chất và các quy luật vận động của thế giới vận dụng vào việc cải tạo thế giới, phục vụ cho cuộc sống của con người. - Sản phẩm của NCKH là hệ thống tri thức mới, hệ thống chân lý khách quan, đã được kiểm nghiệm bằng các phương pháp khác nhau. - NCKH là hoạt động được tiến hành bằng một hệ thống các giải pháp, phương pháp, thủ thuật, với nhiều phương tiện kỹ thuật hỗ trợ. Luận văn quan niệm NCKH là một dạng hoạt động đặc biệt, có tổ chức, có mục tiêu của các nhà khoa học được tiến hành bằng một hệ thống các phương pháp, phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm phát hiện ra bản chất, quy luật thế giới, sáng tạo ra hệ thống tri thức mới, hệ thống chân lý khách quan được ứng dụng vào cải tạo thế giới, phục vụ đời sống kinh tế - xã hội của con người.
Chính sách khuyến khích Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, khuyến kích: "(1) Khích lệ tinh thần cho phấn khởi, tin tưởng mà cố gắng hơn; (2) Tạo điều kiện tốt để phát triển công việc gì" [101, tr. Khái niệm chính sách khuyến khích còn có thể tiếp cận dưới dạng khái niệm về động cơ, động lực thúc đẩy. Động cơ thúc đẩy là thuật ngữ chung áp dụng cho toàn bộ nhóm các xu hướng, ước mơ, nhu cầu, nguyện vọng và những thôi thúc tương tự. Các động lực là những yếu tố thúc đẩy con người thực hiện công việc.
Các động lực cũng là những phương tiện mà nhờ chúng các nhu cầu mâu thuẫn nhau có thể được điều hòa hoặc một nhu cầu được đề cao hơn để sao cho chúng sẽ được ưu tiên hơn các nhu cầu khác. Chuỗi mắt xích nhu cầu - mong muốn - thỏa mãn được mô tả như sau: Những Những Những trạng thái nhu cầu mong muốn căng thẳng Những Sự hành động thỏa mãn Sơ đồ 1.1: Chuỗi mắt xích nhu cầu - mong muốn - thỏa mãn 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Động cơ thúc đẩy và sự thỏa mãn là khác nhau. Động cơ thúc đẩy để đi tới một kết quả, còn sự thỏa mãn là một kết quả đã đạt được sự thực hiện (được thể hiện qua sơ đồ). Động cơ thức đẩy Các kết quả Sự thỏa mãn Sơ đồ 1.2: Động cơ thúc đẩy dẫn đến sự thỏa mãn Động cơ thúc đẩy không phải là một khái niệm đơn giản, nó gắn liền với những xu hướng, nguyện vọng, nhu cầu, mong ước và những lực lượng khác.
Các nhà quản lý thúc đẩy bằng cách tạo ra môi trường để khuyến khích cấp dưới đóng góp cho tổ chức. Tác giả luận văn cho rằng chính sách khuyến khích trong NCKH là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quản lý đưa ra đã được thể chế hóa thành những quy định có giá trị pháp lý để kích thích, tạo động cơ, động lực thúc đẩy hoạt động NCKH. Giảng viên và Giảng viên trẻ Giảng viên Theo Chương IV, Luật Giáo dục (có sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác (Khoản 1, Điều 70) [72]. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non; giáo dục phổ thông; giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên.
Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là GV (Khoản 3, Điều 70). 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.