Phần mở đầu, hiện nay thực hành kinh doanh có trách nhiệm có nhiều cách hiểu khác nhau và vẫn chưa được biết đến rộng rãi tại Việt Nam. Những nỗ lực nhằm thúc đẩy kinh doanh có trách nhiệm, bền vững đã và đang được thể hiện qua lăng kính trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)15. Hiện nay, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hiện nay đang được tiếp cận dưới nhiều góc độ: (i) là cam kết tự nguyện của doanh nghiệp hoặc (ii) là một nghĩa vụ. Theo một số từ điển tiếng Việt, cam kết nghĩa là giao ước sẽ làm đúng những điều đã thỏa thuận hoặc cam đoan làm đúng lời hứa.
Theo đó, ở góc độ cam kết tự nguyện của doanh nghiệp, có thể hiểu doanh nghiệp cam kết có trách nhiệm đối với những vấn đề liên quan đến môi trường và xã hội và thực hiện đúng những gì đã cam kết. Tuy nhiên, một vấn đề có thể phát sinh nếu tiếp cận ở góc độ này là doanh nghiệp chỉ thực hiện đúng những gì đã cam kết nhưng đối với những vấn đề mà doanh nghiệp bỏ ngỏ, không cam kết thì sẽ không có chế tài ràng buộc doanh nghiệp vì rõ ràng doanh nghiệp không cam kết đối với những vấn đề đó thì cũng không có trách nhiệm để thực hiện chúng. Về góc độ nghĩa vụ, nghĩa vụ có nghĩa là trách nhiệm trước pháp luật hay đạo đức hoặc bổn phận bắt buộc phải làm đối với xã hội, với đoàn thể. Khi tiếp cận ở góc độ này, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không còn là sự thỏa thuận hay cam kết tự nguyện mà đã trở thành trách nhiệm pháp lý hoặc “bổn phận bắt 15 Bộ Tư pháp, Chính phủ Thuỵ Điển và UNDP Việt Nam (2020), Đánh giá sơ bộ Khung pháp lý của Việt Nam về thực hành kinh doanh có trách nhiệm, tr.
12 buộc” ràng buộc doanh nghiệp lưu tâm đến các vấn đề xã hội và môi trường. Khi đó, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện đúng và đủ, kể cả đối với những vấn đề mà doanh nghiệp không cam kết. Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (World Bank), trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp trong việc đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững, hợp tác với người lao động và gia đình họ, cộng đồng và toàn xã hội, theo hướng có lợi cho cả doanh nghiệp và sự phát triển chung của xã hội16. Quan điểm này tiếp cận khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dưới góc độ là một cam kết.
Theo đó, có thể hiểu đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững hay hợp tác với người lao động và gia đình họ, cộng đồng và xã hội không phải là một trách nhiệm bắt buộc của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, theo tác giả, quan điểm này chỉ đang tiếp cận trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở khía cạnh có trách nhiệm đối với xã hội mà chưa đề cập đến vấn đề môi trường - một khía cạnh không thể thiếu khi đề cập đến phát triển kinh tế bền vững. Vấn đề môi trường, xã hội và hoạt động kinh doanh luôn được đặt trong mối quan hệ biện chứng, có mối liên hệ, tác động lẫn nhau. Do đó, theo tác giả, khi đề cập đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững mà mà không bao gồm khía cạnh về môi trường thì khái niệm này vẫn chưa thật sự hoàn chỉnh.
Theo quan điểm của PGS. Trần Hoàng Hải, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là hoạt động của doanh nghiệp xuyên suốt quá trình từ ban hành quyết định và thực hiện hoạt động kinh doanh phải góp phần làm cải thiện và nâng cao các giá trị và lợi ích hướng đến các trụ cột chính: Đối tác, người tiêu dùng, người lao động, cộng đồng xã hội và môi trường17. Theo quan điểm này, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ thể hiện trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh mà đã được thể hiện ngay từ quá trình ban hành quyết định. Thêm vào đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ hướng đến mục tiêu cải thiện và nâng cao giá trị của nhóm yếu tố xã hội mà còn hướng đến cải thiện và nâng cao giá trị của yếu tố môi trường.
So sánh với quan điểm của Ngân hàng thế giới nêu trên, quan điểm này bao quát và toàn diện hơn khi đã đặt doanh nghiệp trong mối tương quan với môi trường và xã hội. 16 World Bank (2003), tlđd (5), tr. 17 Trần Hoàng Hải (2018), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động dưới góc độ pháp lý, Báo cáo tổng kết Đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ, Mã số B2016-PLS-01, tr. 13 Ngoài ra, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng thường bị nhầm lẫn với hoạt động từ thiện.
Cần phân biệt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hoạt động từ thiện. Hoạt động từ thiện phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến doanh nghiệp như tài chính, lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể cân nhắc và quyết định. Trong khi đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào vấn đề lợi nhuận, bởi lẽ những yếu tố môi trường và xã hội luôn là những vấn đề trọng tâm, liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải thể hiện trách nhiệm của mình ngay cả khi việc thể hiện trách nhiệm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp hay không. Khái niệm thực hành kinh doanh có trách nhiệm Tương tự như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, thực hành kinh doanh có trách nhiệm hiện nay cũng được định nghĩa dựa trên nhiều quan điểm khác nhau.
Giữa nhiều luồng quan điểm khác nhau về khái niệm thực hành kinh doanh có trách nhiệm, nổi bật công trình Khung chính sách Đầu tư của OECD, phiên bản 2015 (Policy Framework for Investment 2015 Edition) đã đưa ra một khái niệm khá đầy đủ. Theo công trình này, thực hành kinh doanh có trách nhiệm được hiểu là hoạt động kinh doanh đóng góp tích cực cho sự tiến bộ của kinh tế, môi trường và xã hội nhằm đạt được sự phát triển bền vững, phòng tránh và giải quyết các tác động bất lợi của hoạt động kinh doanh và ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các tác động bất lợi liên quan trực tiếp đến hoạt động, sản phẩm hoặc dịch vụ gây ra bởi hoạt động kinh doanh 18. Từ khái niệm này, thực hành kinh doanh có trách nhiệm đòi hỏi rằng doanh nghiệp ở bất kể quy mô hoặc lĩnh vực nào, một khi đã tiến hành hoạt động kinh doanh thì cũng đều phải chủ động phòng tránh và giải quyết các hậu quả tiêu cực trong hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời đóng góp vào sự phát triển bền vững. Điều này có nghĩa là các vấn đề môi trường và xã hội luôn được đặt trong mối liên hệ mật thiết và được xem là các vấn đề cốt lõi trong các hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng của thực hành kinh doanh có trách nhiệm là quá trình thẩm định (due diligence). Đóng vai trò là một mắt xích của thực hành kinh doanh có trách nhiệm, thông qua quá trình này, các doanh nghiệp xác định được các tác động tiêu cực thực tế và tiềm ẩn đối với môi trường và xã hội từ hoạt động kinh doanh. Từ đó, có kế hoạch, phương hướng giảm thiểu và chủ động ngăn chặn các tác động tiêu cực này, 18 OECD (2015), tlđd (5). 14 đồng thời tính toán phương pháp giải quyết những tác động tiêu cực đó.
Theo quan điểm của tác giả, khái niệm thực hành kinh doanh có trách nhiệm theo hướng tiếp cận như trên là một cách tiếp cận khá hợp lý. Tuy nhiên, để đầy đủ và tương thích với Hướng dẫn của OECD cho các Công ty Đa quốc gia, cập nhật năm 2011 (OECD Guidelines for Multinational Enterprises, update 2011), nên chăng cần có thêm yếu tố tuân thủ pháp luật đóng vai trò là một yếu tố đầu tiên và tối thiểu để thẩm định và đánh giá doanh nghiệp đã thực hành kinh doanh có trách nhiệm hay chưa. Bởi lẽ, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế không đơn thuần kinh doanh tốt mà còn phải đảm bảo tôn trọng quyền con người, đảm bảo cân bằng sinh thái và tuân thủ các luật và quy định có liên quan. Theo quan điểm của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), thực hành kinh doanh có trách nhiệm thường được hiểu là các hoạt động của công ty với mục đích chính là mang lại lợi ích cho cá nhân, cộng đồng hoặc môi trường19.
Theo quan điểm này, thực hành kinh doanh có trách nhiệm được không đơn thuần là hoạt động kinh doanh mà bất kỳ hoạt động nào của công ty được thực hiện với mục đích mang lại lợi ích cho cá nhân, cộng đồng hoặc môi trường thì đều được xem là thực hành kinh doanh có trách nhiệm. Theo đó, có thể hiểu rằng trước khi thực hiện một hoạt động nào đó, công ty tiến hành xem xét mục đích của hoạt động này có mang lại lợi ích cho xã hội và môi trường hay không - tức là đánh giá tác động của hoạt động đó trong tương lai. Theo đánh giá của tác giả, khái niệm thực hành kinh doanh có trách nhiệm theo quan điểm của UNCTAD đã theo xu hướng chung khi đề cập đến mục đích gia tăng lợi ích cho xã hội và môi trường, song vẫn chưa toàn diện. Khi so sánh với quan điểm của OECD nêu trên, xét thấy quan điểm của UNCTAD vẫn còn thiếu vắng yếu tố giải quyết các tác động tiêu cực liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Bởi lẽ, khái niệm thực hành kinh doanh có trách nhiệm của UNCTAD chỉ đề cập đến xem xét tác động của hoạt động đó trong tương lai mà chưa đề cập đến việc giải quyết các vấn đề tiêu cực liên quan đến hoạt động kinh doanh mà môi trường và xã hội đã và đang phải đối mặt. Một cách khái quát, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là một phạm trù mang tính khuyến khích; trong khi đó, thực hành kinh doanh có trách nhiệm (RBP) là mang tính bắt buộc, thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các chủ thể liên 19 UNCTAD (2019), tlđd (3), tr. 15 quan, như: người lao động, người tiêu dùng, cộng đồng dân cư chịu tác động từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; trong đó tuân thủ quy định pháp luật liên quan chỉ là yêu cầu tối thiểu20.