Chương 1: “Các khái niệm và thực trạng di cư ở châu Âu” đưa ra khái niệm về di cư và một số khái niệm liên quan, sau đó khái quát các vấn đề di cư châu Âu và thực trạng cuộc khủng hoảng di cư châu Âu. Chương 2: “Các nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng di cư ở châu Âu” sẽ phân tích các tác động đã gây nên cuộc cuộc khủng hoảng di cư châu Âu. Chương 3: “Hệ quả của cuộc khủng hoảng di cư ở châu Âu” sẽ nêu ra hệ quả của cuộc khủng hoảng đối với dòng người di cư và châu Âu; từ đó góp ý một số chính sách kinh nghiệm cho ASEAN đối với vấn đề di cư quốc tế. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CÁC KHÁI NIỆM VÀ THỰC TRẠNG DI CƢ Ở CHÂU ÂU 1.1 Các khái niệm cơ bản * Di cư “Di cư” là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Anh là “migrant” với ý nghĩa là “di chuyển từ một địa điểm này đến một địa điểm khác để sinh sống hoặc làm việc”.
Các tác giả của quyển “Exploring Contemporary Migration” xem xét di cư như là sự di chuyển của một người (người di cư) giữa hai địa điểm trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, để xác định được việc di chuyển có phải là một hình thức di cư hay không đòi hỏi phải xác được định khoảng cách di chuyển bao xa hay khoảng thời gian di chuyển là bao lâu. Với ý nghĩa đó, di cư còn có thể được hiểu là sự di chuyển của một người, bao gồm di chuyển cư trú ngắn hạn hoặc định cư dài hạn, với phạm vi giữa các quốc gia trên thế giới. Cách hiểu như trên là cách diễn giải về di cư quốc tế (international migration).
Tổ chức di cư quốc tế (IOM) nêu rõ di cư quốc tế là hình thức di chuyển qua biên giới của một hoặc một vài quốc gia, dẫn tới sự thay đổi tình trạng pháp lý của một cá nhân. Di cư quốc tế cũng bao gồm sự di chuyển của những người tị nạn, người lánh nạn và những cá nhân bị buộc phải rời bỏ nơi sinh sống. Sau khi tổng hợp và phân tích các định nghĩa trong từ điển của các nhà xuất bản, Taylor (1986) và Gatehouse (1987) cùng với các tài liệu nghiên khoa học nghiên cứu lịch sử tự nhiên và sinh học, Dingle và Drake đã diễn giải thuật ngữ “di cư” theo 4 khái niệm khác nhau nhưng có vài điểm trùng lặp như là một hoạt động di chuyển từ nơi này đến nơi khác diễn ra khá bền bỉ, không gây sự chú ý và kéo dài; hoặc là quá trình tái định cư của động vật với số lượng cá thể lớn, diễn ra lâu dài, so với số lượng di chuyển chỗ ở vẫn xảy ra trong các hoạt động thường ngày; hoặc là sự di chuyển luồng/đàn từ nơi này đến nơi khác theo mùa vụ giữa các khu vực có các điều kiện tự nhiên biến đổi giữa thuận lợi và khắc nghiệt (bao gồm cả vùng thuận lợi cho việc nuôi dưỡng con non); và là những hoạt động dẫn tới việc tái phân phối trong một vùng dân số rộng lớn. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo từ điển “Oxford Concise Dictionary of Politics” cho rằng: “Di cư là sự di chuyển vĩnh viễn của các cá nhân hoặc nhóm người từ nơi này đến nơi khác”; hoạt động di cư bao gồm hai chủ thể chính là người di cư (emigrant) và người nhập cư (immigrant) [39, tr.
Cùng quan niệm đó nhưng ở một góc hẹp hơn (vì đề cập đến thời gian), di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định. Từ điển “Oxford Advanced Learner‟s Dictionary” định nghĩa di cư là “sự di chuyển một số lượng lớn người từ nơi này đến nơi khác”. Hoạt động di cư quốc tế chỉ được thực hiện với chủ thể là con người. Nhận thấy tầm quan trọng của hiện tượng này, Liên Hợp Quốc (LHQ) đã phát triển định nghĩa về người di cư quốc tế.
Nhìn từ góc độ chủ thể, trong báo cáo của Tổng thư ký LHQ tháng 9/2006: “Nói một cách đơn giản nhất, người di cư quốc tế là những người di chuyển từ một quốc gia này sang một quốc gia khác với mục đích hoặc có khả năng ở lại nước đó một thời gian, có thể là một năm hoặc lâu hơn” [56]. Theo đó, người di cư phải ở lại nơi ở mới trong thời gian ít nhất một năm thì đó mới được coi là nơi cư trú thường xuyên. Vậy nên, “di cư” có thể được hiểu là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian, thời gian nhất định kèm theo sự di chuyển nơi cư trú tạm thời hoặc vĩnh viễn. * Người di cư Người di cư “là một người chuyển từ nơi này sang nơi khác, đặc biệt là để tìm kiếm công việc”.2 Những khái niệm này nêu lên hoạt động di cư và người di cư nói chung nên chưa làm nổi bật lên tính quốc tế của hiện tượng.
Hội đồng Kinh tế Xã hội Liên Hợp Quốc (ECOSOC) cho rằng người di cư quốc tế là “bất cứ ai thay đổi đất nước nơi mình thường xuyên cư trú”3, sự 2 Wehmeier, Sally (2005), Oxford Advanced Learner‟s Dictionary (7th edition), Oxford University Press, UK, pp. 3 United Nations‟ Department of Economic and Social Affairs (1998), “Recommendations on Statistics of International Migration”, Statistical Papers Series M, No. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển dịch nơi ở tạm thời như thăm viếng, buôn bán, du lịch kể cả qua lại biên giới không phải là di cư, di cư còn gắn với sự di chuyển các quan hệ xã hội. Sự chuyển dịch trong phạm vi hẹp (bên trong biên giới) không được tính là di cư quốc tế.
Quan niệm này đã góp phần làm rõ hơn tính quốc tế của hiện tượng. Tuy nhiên, tính quốc tế của hoạt động di chuyển không phải lúc nào cũng rõ ràng bởi có những khu vực lãnh thổ chỉ có một số đặc điểm của nhà nước. Do vậy, sự chuyển dịch của người dân trong giữa “mẫu quốc” và lãnh thổ hải ngoại như Mỹ với Puerto Rico, Pháp với Guyan vừa có thể được coi là di cư quốc tế, cũng có thể coi là di cư nội địa. Người di cư có thể di chuyển giữa các quốc gia, lý do di chuyển không phải là do bị ép buộc hoặc vì nỗi lo đến tính mạng, quyền tự do, mà để cải thiện cuộc sống.
Người di cư không nằm trong Công ước của Liên LHQ về người tị nạn vì họ có thể quay trở lại quê hương một cách tự do và an toàn nếu họ muốn. “Người di cư” là một thuật ngữ nói chung có nội hàm rộng, bao trùm lên cả người tị nạn và người đi tìm nơi trú ẩn nhưng do tính chất khác nhau của hành trình di chuyển, và do mục đích của người di cư và tị nạn cũng khác nhau nên cần có một sự phân biệt trong trường hợp này dù biết rằng phân biệt rạch ròi là rất khó. Xét về ý nghĩa của thuật ngữ, ngƣời tị nạn nói chung là người đi lánh nạn. Tuy vậy, có hai dạng thức người đi lánh nạn thường xuyên được nhắc tới, đó là người tị nạn (refugee) và người đi tìm nơi trú ẩn (asylum seeker).
Trước năm 1951, người tị nạn không được xác định là những cá nhân, mà là một nhóm hoặc một dân tộc cá biệt mà không còn nơi cư trú, hoặc không được bảo vệ về mặt chính trị bởi chính phủ trên đất nước họ sinh sống.4 Công ước LHQ năm 1951 về người tị nạn được các nước đàm phán và thảo luận sau khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc. Công ước 1951 là kết quả xây dựng về chính trị của các nước phương Tây hướng tới mục đích phản 4 Long, Katy (2013), “When refugees stopped being migrants: Movement, labour and humanitarian protection”, Migration Studies, 1 (1), pp. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ứng lại thực tiễn của tình trạng khủng hoảng người tị nạn ở châu Âu thời kỳ sau 1945 và được định hình bởi sự thù địch giữa hai phe trong Chiến tranh Lạnh. Công ước này xác định người tị nạn là những người “vì nỗ lo sợ chính đáng về khả năng bị ngược đãi vì các lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch hay quy chế thành viên của một nhóm xã hội hay nhóm quan điểm chính trị, sống bên ngoài đất nước mà họ mang quốc tịch và không thể, hoặc vì lo sợ, sẵn sàng chấp nhận sự bảo trợ của đất nước đó”.
Người tị nạn được hưởng những sự bảo trợ những quyền và lợi ích cơ bản theo Công ước 1951 và các thỏa thuận quốc tế khác. Ở châu Âu, người tị nạn có thể nộp đơn xin bảo trợ chính trị hay các quy chế bảo vệ khác, đôi khi là tạm thời. Về pháp lý, người tị nạn không bị trao trả lại cho những nước mà ở đó cuộc sống của họ có thể gặp nguy hiểm. “Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong luật quốc tế là người tị nạn không bị trục xuất hay đưa trở lại những nơi mà ở đó cuộc sống và sự tự do của họ có thể bị đe dọa”5.
Nói một cách đơn giản, người tị nạn là người rời bỏ đất nước để chạy trốn chiến tranh hoặc tình trạng ngược đãi, và phải chứng minh được điều đó. Người tị nạn không bị ép phải hồi hương.6 Bên cạnh thuật ngữ người tị nạn, người đi tìm nơi trú ẩn (asylum seeker) cũng được quy vào một dạng thức tị nạn. Từ điển “Oxford Advanced Learner‟s Dictionary” định nghĩa người đi tìm nơi trú ẩn là “người bị buộc phải lời bỏ đất nước do tình trạng nguy hiểm và tìm đến một nước khác với đề nghị được ở lại đó”7. Từ điển “Oxford Concise Dictionary of Politics” cũng chấp nhận định nghĩa về người tị nạn theo Công ước 1951.8 Tuy nhiên, phân tích của từ điển này nêu lên quan điểm cho rằng định nghĩa người tị nạn được xây dựng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh bởi các nước phương Tây nên đã lỗi thời và quá hẹp.
Đa số những người di cư không tự nguyện xuất phát từ Thế 5 UNHCR (2015), UNHCR viewpoint: „Refugee‟ or „migrant‟ – Which is right?, <http://www.org/print/55df0e556. 6 McLean, Iain & Alistair McMillan (2003), bài đã dẫn, tr. 7 Wehmeier, Sally (2005), bài đã dẫn, pp. 8 McLean, Iain & Alistair McMillan (2003), bài đã dẫn, tr.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giới thứ ba do chiến tranh, nội chiến hoặc bất ổn nói chung, tước đoạt những quyền cơ bản của con người và phá hoại nền kinh tế.