Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu thú tại Việt Nam Theo Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2001) [12]: Lịch sử nghiên cứu khu hệ thú hoang dã Việt Nam gắn liền với lịch sử nghiên cứu động vật giới Việt Nam và có thể chia thành 3 thời kỳ như sau: Trước 1954; từ 1954 đến 1975 và từ 1975 đến nay. Thời kỳ trước năm 1945 Nghiên cứu khu hệ thú Việt Nam được bắt đầu vào đầu thế kỷ 18, với các công trình của Lê Quý Đôn (1724 – 1784): sách “Văn đải loại ngữ” và “Phủ biên tạp lục”, sách “Đại Nam nhất thống chí” của các nhà bác học Triều Nguyễn (1865 – 1882). Trong thời kỳ này, việc nghiên cứu tập trung vào thống kê những loài thú có sản phẩm quý giá như: Voi, tê giác, hưu, nai, hươu xạ, gấu, hổ, báo., liên quan đến việc khai thác các sản phẩm của chúng làm đồ mỹ nghệ, trang trí các lâu đài, chùa chiền, hoặc cống nạp cho các triều đại phong kiến nước ngoài (ngà voi, sừng tê giác, móng trâu bò, vuốt và da hổ, báo.) và làm thuốc chữa bệnh trong nhân dân (mật gấu, mất các loài khỉ, vẩy tê tê, xạ hương, nhung hươu.
Đến thế kỷ 19, các nhà khoa học nước ngoài bắt đầu các cuộc khảo sát về động vật giới Việt Nam đã thu thập các mẫu vật thú chuyển về các bảo tàng tự nhiên ở Pari (Pháp) và Luân Đôn (Anh) để phân tích. George Filayson (Anh) đã tiến hành các cuộc khảo sát thú đầu tiên ở Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam vào những năm 1821-1822. Các tiêu bản thú thu được trong các đợt khảo sát này dần dần được M.Gurney (1889) phân tích và công bố. Đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, việc khảo sát động vật giới Việt Nam tiếp tục được hàng loạt các nhà khoa học nước ngoài thực hiện: Milne – Edwards (1867- 1874), Moriee (1875).
Đoàn nghiên cứu lịch sử tự nhiên ở Đông Dương của Pavie (1879 – 1898) đã tiến hành khảo sát chủ yếu ở Nam Bộ. Những tiêu bản thú sưu tầm được đã giao cho De Pousargues phân tích và kết quả được công bố trong bộ sách của Pavie xuất bản năm 1904. Lúc đó ở miền Bắc Việt Nam có đoàn khoa học thường trú Đông Dương do Boutan dẫn đầu. Những tiêu bản thú sưu tầm được gửi về Pháp đã được Ménégaux phân tích và thông báo trong tạp chí Bull.
Tiếp đến là đoàn Delacour (1925 - 1933) khảo sát ở nhiều địa phương trên toàn quốc và đoàn nghiên cứu của Kelley- Roosevelt (1928-1929) đã tiến hành nghiên cứu thú ở Lào Cai, Quảng Trị và Huế. Các tiêu bản thú của 2 đoàn trên được Thomas (1925-1929) và Osgood (1932) phân tích và công bố. 11 Một số công trình tiêu biểu trong thời kỳ này: Bộ sách của A.Pavie xuất bản năm 1904 nói về các loài thú ở Đông Dương; công trình của Boutan (1906) “Decades zoologiques, mammiferes, Miss, Sc. Indoch, Hanoi” nói về thú ở miền Bắc Việt Nam.
Đặc biệt, Osgood (1932) “Mammals of the Kelley - Roosevelts and Delcour Asiatic Expeditions” đã thống kê ở Việt Nam có 172 loài và loài phụ thú. Đây là một công trình khoa học đầy đủ nhất về khu hệ động vật có vú ở Việt Nam trong thời kỳ này. Từ năm 1945 đến 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ác liệt trên toàn quốc đã làm gián đoạn các hoạt động khảo sát động vật hoang dã ở Việt Nam. Thời kỳ từ năm 1955 đến 1975 Sau khi miền Bắc được giải phóng và hòa bình được lập lại (1954), do yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế đất nước cần phải nắm vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên sinh vật.
Công tác điều tra động vật nói chung và thú nói riêng được thực hiện bởi các nhà khoa học Việt Nam. Vào những năm 1955-1960, việc nghiên cứu nguồn lợi thú rừng còn ít: Khoa sinh vật Trường Đại học tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu để phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên. Dần dần công tác nghiên cứu được mở rộng hơn, đội ngũ cán bộ ngày càng đông, việc nghiên cứu thú được đẩy mạnh. Vào những năm 1960-1975, công tác nghiên cứu thú ở miền Bắc Việt Nam do 3 cơ quan chính đảm nhận là: Ban Sinh vật địa học - Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước; Trường đại học tổng hợp Hà Nội và Tổng cục Lâm nghiệp.
Ngoài ra, còn có một số cơ quan khác cũng tiến hành nghiên cứu: Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và côn trùng, Viện Vệ sinh Dịch tễ, Trường đại học quân y thuộc Bộ y tế và Trường Đại học sư phạm Hà Nội. Thời kỳ này, nghiên cứu động vật được tiến hành rộng rãi ở khắp các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Nhiều kết quả lần lượt được công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước. Về thú có những công trình của Đào Văn Tiến đã được công bố trên tạp chí Sinh vật - Địa học, tạp chí Hoạt động khoa học vv.
và một số tạp chí nước ngoài như: Tạp chí động vật học của Liên Xô cũ, Zoologischer Azeiger Mitt Mus. Về các loài thú ăn thịt và thú móng guốc ngón chẵn, có công trình của Đặng Huy Huỳnh (1968); nghiên cứu về khu hệ sinh học, sinh thái của một số loài thú có công trình của Võ Quý, Mai Đình Yên, Lê Hiền Hào, Nguyễn Thạnh (1961); Lê Hiền Hào (1962, 1964, 1969, 1973); Lê Hiền Hào và Trần Hải (1970, 1971); Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung (1965); Cao Văn Sung (1971); Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh (1973 - 1974); Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh, Bùi Kính (1975). 12 Đáng chú ý là việc điều tra khu vực xã Thường Tiến (Kim Bôi, Hòa Bình) để lập thành Khu bảo vệ thiên nhiên do Cục bảo vệ - Tổng cục Lâm nghiệp tiến hành (Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Mộng Giao 1973). Từ năm 1962-1966, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước tổ chức một đoàn nghiên cứu liên hợp động vật - ký sinh trùng, côn trùng, gồm nhiều cơ quan phối hợp đã tiến hành điều tra 12 tỉnh ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có nhóm nghiên cứu thú.
Tiếp đó tháng 02-1968, đoàn nghiên cứu động vật của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước phối hợp với Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng đã tiến hành nghiên cứu ở Hà Bắc. Từ tháng 5/1969 - 5/1970, đoàn đã tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống trên toàn tỉnh Quảng Ninh. Kết quả được tổng kết dưới dạng báo cáo “Kết quả điều tra khu hệ động vật có xương sống trên cạn, ký sinh trùng và côn trùng tỉnh Quảng Ninh, 1970”, trong đó có công bố các loài thú phân bố ở tỉnh Quảng Ninh. Tháng 10/1971, đoàn nghiên cứu động vật của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống về giới động vật ở tỉnh Hòa Bình.
Kết quả nghiên cứu đã xuất bản thành công cuốn sách chuyên khảo “Động vật kinh tế tỉnh Hòa Bình, 1974”. Trong thời kỳ này (1955-1975), các nhà khoa học đã thống kê được ở miền Bắc Việt Nam có 169 loài thú (202 loài và phân loài) thuộc 32 họ và 11 bộ (Ủy ban Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, 1981). Tại miền Nam Việt Nam có công trình nghiên cứu về thú của F.D Van Peenen et at., (1965-1969) đã công bố 164 loài và phân loài thú ở Việt Nam. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay Đất nước hoàn toàn giải phóng, Nam Bắc một nhà.
Đây là thời kỳ thuận lợi nhất trong việc tổ chức nghiên cứu động vật hoang dã nói chung và khu hệ thú nói riêng trong phạm vi cả nước. Lực lượng tham gia cũng được phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng nghiên cứu, bao gồm các Viên nghiên cứu (Viện Sinh vật học nay là Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Điều tra quy hoạch rừng, Viện Sinh học Nhiệt đới,.), các trường đại học trong cả nước (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Lâm nghiệp, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh,. Không những các cơ quan đã độc lập tổ chức các đợt điều tra nghiên cứu, mà nhà nước cũng có một số chương trình trọng điểm quốc gia: Chương trình 52-02 điều tra tổng hợp Tây Nguyên (1981-1986), Chương trình CT-48C (1987-1990), chương trình nghiên cứu điều tra động vật vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh miền Đông Nam Bộ do Viện Khoa học Việt Nam chủ trì, Chương trình kiểm kê tài nguyên rừng do Bộ Lâm nghiệp chủ trì; chương trình Động vật chí Việt Nam do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì (1996-2005).
Đặc biệt, trong thời kỳ này có sự phát triển đáng kể về hợp tác quốc tế trong điều tra nghiên cứu động vật ở 13 nước ta. Trước hết là sự hợp tác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây (Trung Quốc, Hungary, Ba Lan, Đức,. Đáng kể nhất là Chương trình hợp tác Việt - Xô nghiên cứu tổng hợp hệ sinh thái rừng nhiệt đới Kon Hà Nừng (Gia Lai) giữa Viện Sinh vật học thuộc Viện Khoa học Việt Nam và Viện Hình thái Tiến hóa và Sinh thái động vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (1981-1985). Sau những năm 1985, với chính sách đổi mới và mở cửa, sự hợp tác được mở rộng sang các nước không phải xã hội chủ nghĩa (Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Nhật,.
Một số tổ chức chính phủ và phi chính phủ đã mở văn phòng đại diện và có những đóng góp tích cực vào công tác điều tra nghiên cứu động vật ở nước ta: Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN), Quỹ quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên (WWF), Tổ chức Birdlife Quốc tế, Tổ chức Bảo tồn động thực vật quốc tế (FFI), Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga. Kết quả nghiên cứu thú trong thời kỳ này là rất to lớn, với hàng nghìn công trình được công bố trong nước và trên thế giới của rất nhiều nhà khoa học: Đào Văn Tiến, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Lê Vũ Khôi, Hà Đình Đức, Trần Hồng Việt, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên, Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh, Phạm Nhật, Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Minh Tâm, Vũ Ngọc Thành Nguyễn Trường Sơn, Lê Đình Thống. Ngoài ra còn có rất nhiều các luận án tiến sỹ của các nhà khoa học Việt Nam cũng góp phần tổng kết các kết quả nghiên cứu thú ở Việt Nam. Các công trình đã công bố về thống kê thành phần loài thú ở Việt Nam phải kể đến là: - “Những loài gặm nhấm ở Việt Nam” của Cao Văn Sung và cs (1980) đã thống kê ở Việt Nam có 64 loài găm nhấm thuộc 7 họ.