Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3 1. Phân loại học khu hệ động vật ở Việt Nam 1. Phân loại lớp thú Phân loại thú dựa trên các đặc điểm hình thái là phương pháp phân loại kinh điển nhất và cho đến nay phương pháp này vẫn được sử dụng rộng rãi. Có rất nhiều đặc điểm hình thái của thú được sử dụng trong phân loại học.
Tuy nhiên, các đặc điểm chính thường được sử dụng bao gồm: hình dạng cơ thể, màu sắc lông, chiều dài thân, đầu, chiều dài bàn chân sau, chiều dài chân và đệm bàn chân hoặc đệm ngón chân, số các đôi vú, cấu tạo cánh và màng lượn…Theo tài liệu cập nhật của Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) [6], Việt Nam có 322 loài thú (340 loài và phân loài) thuộc 155 giống, 43 họ và 15 bộ (xem bảng 1.1: Tổng hợp phân loại thú ở Việt Nam TT Bộ Tên Việt Nam Tên khoa học Số họ Số loài 1 Bộ có vòi Proboscidea 1 1 2 Bộ bò nước Sirenia 1 1 3 Bộ nhiều răng Scandentia 1 2 4 Bộ cánh da Dermoptera 1 1 5 Bộ linh trưởng Primates 3 23 6 Bộ thỏ Lagomorpha 1 3 7 Bộ chuột voi Erinaceomorpha 1 2 8 Bộ chuột chù Soricomorpha 2 22 9 Bộ dơi Chiroptera 7 113 10 Bộ tê tê Pholidota 1 2 11 Bộ ăn thịt Carnivora 7 39 12 Bộ móng guốc ngón lẻ Perissodactyla 2 3 13 Bộ móng guốc ngón chẵn Artiodactyla 5 20 14 Bộ cá voi Cetacea 4 22 15 Bộ gặm nhấm Rodentia 6 68 Tổng 43 322 (Nguồn: Nguyễn Xuân Đặng Và Lê Xuân Cảnh, 2009) 1. Phân loại chim 4 Quan điểm phân loại chim đến nay cơ bản vẫn sử dụng tên phổ thông tiếng Việt theo tài liệu của Võ Quý và Nguyễn Cử (1995) [24], tên tiếng Anh và tên khoa học theo Inskipp et al, (1996). Năm 2005, Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Phillips [5] đã xuất bản cuốn Chim Việt Nam trên cơ sở kế thừa các tài liệu trước đấy nhưng đã chuẩn hóa tên phổ thông Việt Nam, tên tiếng Anh cũng như mô tả hình thái của chúng và bổ xung thêm nguồn tài liệu và phân loại các loài chim hiện có. Đặc biệt cuốn sách là nguồn tài liệu giúp cho mọi người đều có thể tự mình nhận dạng một cách dễ dàng các loài chim trong tự nhiên.
Tuy nhiên, tài liệu mà chúng tôi cập nhật nhất hiện nay theo phân loại của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) [25]. Theo quan điểm phân loại này, ở Việt Nam hiện có 887 loài chim thuộc 88 họ và 20 bộ. Phân loại bò sát và lưỡng cư Quan điểm về phân loại Bò sát, Ếch nhái ở Việt Nam thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 2. Chẳng hạn Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc (1996) đã thống kê ở Việt Nam có 258 loài Bò sát và 82 loài Ếch nhái.
Đến năm 2005, hai tác giả trên cùng Nguyễn Quảng Trường đã bổ xung thêm 38 loài Bò sát và 80 loài Ếch nhái nâng số Bò sát được phát hiện lên thành 296 loài và 162 loài Ếch nhái; đây là kết quả nghiên cứu Ếch nhái, Bò sát ở nhiều vùng khác nhau, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa trên lãnh thổ Việt Nam. Không dừng lại ở đó, ba năm sau khi công bố 458 loài Bò sát, Ếch nhái được xác định, ba tác giả này lại tiếp tục công bố thêm 84 loài mới và tổng hợp đầy đủ được 369 loài Bò sát và 176 loài Ếch nhái thuộc 6 bộ và 34 họ trong danh lục bò sát, ếch nhái Việt Nam 2009 [26] (xem chi tiết trong bảng 1.2: Tổng kết về phân loại bs và ếch nhái ở Việt Nam theo thời gian Năm Bò sát Ếch nhái Nguồn thông tin 5 Bộ Họ Loài Bộ Họ Loài Nguyễn Văn Sáng và Hồ 1996 3 23 258 3 9 82 Thu Cúc (1996) Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu 2005 3 23 296 3 9 162 Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2005) Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu 2009 3 24 369 3 10 176 Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009) Mặc dù có nhiều quan điểm phân loại như vậy nhưng trong luận văn này, tôi sử dụng hệ thống phân loại theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009) làm cơ sở phân loại vì đây là hệ thống phân loại cập nhật đầy đủ và chi tiết hơn cả. Lịch sử nghiên cứu chim Việc nghiên cứu tài nguyên Động vật hoang dã, đặc biệt là chim trong khu vực Đông Dương đã được bắt đầu từ cách đây vài thế kỷ. Giai đoạn trước trước thế kỷ 20 Trong “Vân đài loại ngữ” của Lê Qúy Đôn ở thế kỷ 18 đã ghi nhận loài Công (Pavo munticus) ở Sơn Tây.
Đại Nam nhất thống chí ghi nhận công là loài chim đẹp, quý, có ở Phú Lương và Võ Nhai (thuộc Thái nguyên ngày nay) và ở hầu hết các tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, đây chưa phải là các công trình nghiên cứu khoa học về chim. Tài liệu chim đầu tiên là bản mô tả loài Gà rừng (Gallus gallus) của Linnaeus với tiêu bản bắt được ở đảo Côn Lôn. Sau đó 30 năm, năm 1788 Gơmơlanh mô tả loài chim thứ hai bắt được ở Đông Dương, đó là loài Chim xanh Nam bộ (Chloropsis cochinensis).
Mặc dù vậy, cho đến nay những hiểu biết về tài nguyên động vật của Đông Dương nói chung và chim nói riêng vẫn còn hạn chế. 6 Sau khi xâm chiếm miền Nam Đông Dương, người Pháp bắt đầu chú ý đến nghiên cứu thiên nhiên vùng này. Mặc dù vào thời gian đầu họ không tổ chức một cuộc sưu tầm nào lớn, nhưng từ năm 1862 đến năm 1874 nhiều đợt nghiên cứu chim khá quy mô do các nhà tự nhiên học nghiệp dư đã sưu tầm được một số lượng mẫu vật khá lớn và chuyển về Pháp để phân tích (Võ Quý, 1975). Giai đoạn thế kỷ 20 đến nay Vào năm 1903, M.
Oustalet cho xuất bản công trình “Chim Campuchia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam” và năm 1907, Uxtalê và Gecmanh cho xuất bản tập “Danh sách Chim Nam Bộ”. Cũng vào quãng thời gian đó Butan tổ chức sưu tầm chim ở miền Bắc Việt Nam, kết quả được công bố trong tập “Mười năm nghiên cứu động vật”. Ông đã ghi nhận được 90 loài và một số dẫn liệu về sinh học của một số loài. Năm 1918 một cuộc sưu tầm chim khác ở Đông Dương đã được tổ chức dưới sự chỉ đạo của Boden Klox, với kết quả thu được là 1.
Kết quả này được Robinson và Klox công bố trong tập “Chim Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam”. Công trình này ghi nhận 235 loài và phân loài, trong đó có 34 dạng mới cho khoa học. Cũng trong khoảng thời gian đó nhà Điểu học người Nhật Kurôđa đã phân tích bộ sưu tập chim của S. Txikia và đã ghi nhận được 130 loài và phân loài (Võ Quý, 1975).
Grinuây và đồng nghiệp đã tiến hành tất cả 7 cuộc sưu tầm lớn ở nhiều vùng khác nhau trên lãnh thổ Đông Dương, với 23.000 tiêu bản đã được thu thập đưa về Pháp giám định. Các tiêu bản này sau đó được phân chia cho các Viện Bảo tàng lớn ở Pháp, Anh và Mỹ (Võ Quý, 1981). Từ năm 1941-1950, các mẫu tiêu bản chim thu thập ở Lào và một số địa phương ở miền Bắc Việt Nam được gửi về phòng nghiên cứu động vật trường Đại học Tổng Hợp Đông Dương giám định. Các mẫu vật này đã được 7 Buaret phân tích và công bố.
Trong thời gian này, đáng chú ý có công trình nghiên cứu về chim ở Lào của Boliơ. Ông đã thu thập được 6.000 tiêu bản của 505 loài và phân loài. Ngoài ra, nhiều tác giả khác đã công bố một số công trình nghiên cứu về chim thu thập được ở vùng Đông Nam Á, trong đó có 20 dạng mới sưu tầm được trên lãnh thổ Đông Dương. Dựa vào các công trình mới này, vào năm 1951, Dơlacua lại lần thứ 3 cập nhật danh lục chim Đông Dương (Delacour, 1951).
Danh lục mới này bao gồm 1.085 loài và phân loài (Võ Quý, 1981). Sau khi miền Bắc được giải phóng, một số nhà khoa học Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về khu hệ chim ở Việt Nam. Đáng chú ý có các công trình nghiên cứu của các tác giả Võ Quý, Trần Gia Huấn (1960, 1961); Võ Quý (1962, 1966); Võ Quý, Đỗ Ngọc Quang (1965), Võ Quý và Anorava N. Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu khác về chim miền Bắc Việt Nam.
Hầu hết các công trình này cũng chỉ mới đề cập đến khu hệ chim của một vài vùng nhỏ của Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ XX, chương trình hợp tác giữa Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng và tổ chức bảo vệ chim Quốc tế (BirdLife International) đã tiến hành điều tra một số khu rừng đặc dụng và phát hiện thêm 2 loài chim mới cho khoa học, đó là Khướu Ngọc Linh (Garrulax ngoclinhensis) và Khướu Kon Ka Kinh (Garrulax konkakinhensis). Tóm lại việc nghiên cứu chim ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng đã có lịch sử vài thế kỷ, nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu là của người nước ngoài. Các nhà khoa học trong nước tham gia nghiên cứu đang còn ở mức độ rất khiêm tốn.
Tính cho đến nay, trên lãnh thổ Việt Nam đã tìm thấy 828 loài, nếu tính cả phân loài thì khu hệ chim Việt Nam có khoảng gần 1500 loài và phân loài chim thuộc 81 họ, 19 bộ, chiếm khoảng 9% tổng số loài chim trên toàn thế giới (Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Phillips, 2005)[4]. Trong đó có nhiều loài quý hiếm, đặc hữu đối với Việt Nam và khu vực Đông 8 Dương. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước thập niên 90 của thế kỷ XX mang ý nghĩa lập danh lục và phân loại là chính, mục đích bảo tồn chưa được quan tâm nhiều trong thời kỳ này. Lịch sử nghiên cứu thú hoang dã Lịch sử nghiên cứu khu hệ thú hoang dã Việt Nam gắn liền với lịch sử nghiên cứu động vật giới Việt Nam và có thể chia thành 3 giai đoạn chính như sau: 1.