Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu bướm ngày trên thế giới Với điều kiện phát triển về khoa học, một số nước trên thế giới đã nhận thức sớm hơn các nước khác về tầm quan trọng của Bướm ngày. Do đó các nghiên cứu cơ bản về Bướm ngày tại những quốc gia này được thực hiện sớm hơn. Nhờ vậy các nghiên cứu về Bướm ngày cũng có điều kiện thuận lợi so với các nước có hệ thống thông tin còn yếu.
Trên thế giới có khoảng 14000 loài bướm ngày tập trung nhiều ở Châu Mỹ và khu vực amzon. Nghiên cứu của Warren (1985) đã chỉ ra rằng, những khu rừng có tán rậm thường ít các loài bướm phân bố hơn những khu rừng thưa. Sự đa dạng của các loài bướm tăng lên với sự tăng thêm về quy mô sinh cảnh và sự đa dạng của thực vật (Price, 1975), hầu hết trong số chúng phụ thuộc vào sự khép tán của rừng (Collins & Morris, 1985; Sutton & Collins, 1991). Bướm ngày tồn tại trong những sinh cảnh rất cụ thể, và sinh cảnh này bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố phi sinh vật và sinh vật (Ramos, 2000; Spitzer et al.
Sinh cảnh bị tác động cũng ảnh hưởng rất lớn đến thành phần và số lượng quần thể các loài Bướm. Sự đa dạng loài và sự phong phú của các loài trong quần xã bướm cao nhất ở nơi rừng bị tác động vừa phải và giảm rất mạnh ở khu vực rừng bị đô thị hoá, đặc biệt các loài đặc hữu bị biến mất khi sinh cảnh của chúng bị đô thị hoá (Blair & Launer, 1997; Brown, 1996). Nghiên cứu của Schulze et al. (2004a, b) cho thấy, sinh cảnh rừng thứ sinh có sự đa dạng quần xã Bướm cao hơn rất nhiều so với ở khu đất canh tác nông lâm nghiệp.
Tuy nhiên, ở những sinh cảnh rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh có thảm thực vật gần giống nhau thì sự khác biệt về thành phần loài Bướm là không đáng kể. Các loài Bướm có phạm vi phân bố rộng thường được bắt gặp ở những khu vực rừng thấp, thường bị tác động của con người. Trong khi đó, các loài 4 Bướm đặc hữu thường giới hạn ở các sinh cảnh rừng trên đai cao lớn hơn 500m (Lewis et al. Ngoài biến động theo sinh cảnh và độ cao, các loài Bướm còn là nhóm động vật dễ bị tác động bởi những thay đổi của thời tiết.
Sự phong phú của các loài Bướm thường tăng lên trong những ngày có thời tiết ấm áp (Roy et al. Thời tiết thuận lợi làm tăng số lượng cá thể của các loài bướm trong những năm sau (Brunzel & Elligsen, 1999). Theo nghiên cứu của Pollard (1988) ở Anh, vào những năm mùa hè ấm áp và khô ráo, quần thể của các loài bướm tăng, trong khi Janzen & Schoener (1968) lại nhận thấy, vào mùa khô ở rừng nhiệt đới, khu vực ẩm có sự phong phú cũng như đa dạng côn trùng cao hơn so với khu vực khô. Khi các nghiên cứu Bướm ngày trên quy mô lớn như theo dõi tập tính di cư tránh đông của nhóm Danaidae tại Đài Loan (Wang và Emmel 1990) tìm hiểu được nguyên nhân và cách thức côn trùng di trú, trong đó có loài bướm chúa Monarch (Danaus plexippus) là loài di cư nổi tiếng do màu sắc đẹp và số lượng cá thể đông đúc.
Chu Nghiêu (1994) đã xuất bản quyển Bướm ngày chí Trung Quốc gồm 2 tập với tổng số 880 trang, đã thống kê được tại Trung Quốc có 1225 loài bướm ngày với 5000 bức ảnh màu. Đây được xem là công trình nghiên cứu về bướm ngày đầy đủ nhất của Trung Quốc từ trước cho đến thời điểm đó. Năm 1997 ông cũng đã ghi nhận tại Đài Loan có 400 loài bướm. Cố Mậu Bân, Trần Bội Trân (1997) thống kê tại đảo Hải Nam có 609 loài.
Các tài liệu này chủ yếu mô tả đặc điểm hình thái, phân bố của các loài. Benard d’ Abrera (2003) đã mô tả đặc điểm hình thái và đặc điểm phân bố của 969 loài bướm ngày trên thế giới. Trong khi đó, Kitahara (2008) với những khảo sát chú trọng vào mối liên hệ giữa Bướm ngày và thảm thực vật, đã khẳng định sự phong phú của Bướm ngày trong một khu vực tỉ lệ thuận với sự phong phú của các thực vật có hoa. Ngoài ra, để cung cấp thêm thông 5 tin về ảnh hưởng của con người nhằm nỗ lực bảo tồn Bướm ngày, Lian Pin Koh (2007) đã tìm hiểu ảnh hưởng của việc chuyển đổi sử dụng đất rừng khu vực Đông Nam Á.
Mặt khác, Danielsen và Treadaway (2004) xem xét, chỉ ra những bất cập trong công tác bảo tồn Bướm ngày ở quần đảo Philippine và từ đó đề xuất thêm những vùng cần được ưu tiên bảo vệ. Qua 105 tháng nghiên cứu, Finn và Colin (2003) đã xem xét lại tình trạng của 915 loài và 910 loài phụ Bướm đã được ghi nhận ở Philippines. Các tác giả đã xác định được 133 loài bị đe dọa ở mức độ toàn cầu và các taxon đặc hữu ở Philippines. Hiện tại, hệ thống gồm 18 khu bảo tồn được ưu tiên của đất nước này ít nhất đã có 1 khu dành cho việc bảo tồn 65 loài, tuy nhiên số còn lại là 29 loài và 39 loài phụ vẫn chưa có một khu bảo tồn nào quan tâm tới.
Tình hình nghiên cứu bướm ngày ở Việt Nam Nghiên cứu về côn trùng đầu tiên ở Việt Nam được biết đến là công trình nghiên cứu của Đoàn nghiên cứu tổng hợp của Pháp mang tên Mission de Pavie đã tiến hành khảo sát ở Đông Dương trong 16 năm (1895 – 1979) đã xác định được 8 bộ, 85 họ và 1040 loài côn trùng. Phần lớn mẫu thu thập ở Lào, Campuchia, còn ở Việt Nam thì rất ít. Hầu hết các mẫu vật được lưu trữ ở các Viện bảo tàng Paris, London, Geneve và Stockholm. Giai đoạn những năm đầu thế kỷ 20, công trình nghiên cứu về Bộ cánh vảy (Lepidoptera) có công trình nghiên cứu của J.de Joannis mang tên “Lepidopteres du Tonkin” xuất bản ở Paris năm 1930.
Tác giả đã thống kê được 1798 loài thuộc 746 giống và 45 họ. Danh sách khu hệ bướm của Việt Nam được công bố vào năm 1957, trong danh sách này có 454 loài. Kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Đáp và Hoàng Vũ Trụ (2001) về nhóm Bướm ngày (Lepidoptera; Rhopalocera) đã phát hiện được 72 loài thuộc 10 họ ở Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà 6 Cò và 98 loài thuộc 9 họ ở Vườn quốc gia Ba Bể. Cả hai khu vực nghiên cứu đều là vùng núi đá vôi có độ cao trên 100m so với mực nước biển.
Báo cáo khoa học của Phạm Văn Lầm về xác định tên khoa học cho các loài Bướm ngày tại Vườn Quốc gia Tam Đảo năm 2001 - 2002 đã định danh được 136 loài, 87 giống của 11 họ Bướm ngày. Trong đó Họ Bướm giáp có số loài đã định tên nhiều nhất (44 loài), tiếp theo là các họ Bướm phượng (17 loài), họ Bướm nhảy (16 loài) và họ Bướm phấn (15 loài). Các họ Libytheidae và Acraeidae, mỗi họ mới chỉ có 1 loài (Phạm Văn Lầm, 2005). Vũ Văn Liên (2005c) khi nghiên cứu về thành phần và độ phong phú của các loài Bướm ngày (Lepidoptera: Rhopalocera) ở rừng Hòn Bà, Khánh Hòa đã bước đầu xác định được 175 loài bướm thuộc 9 họ.
Theo khảo sát của các tác giả Monastyrskyii, Đỗ Anh Tuấn và Phạm Minh Hưng năm 2005, khu hệ bướm tại sinh cảnh vùng núi thấp ở tỉnh Thừa Thiên Huế có sự đa dạng rất cao. Các tác giả đã ghi nhận được 402 loài, đặc biệt có một số loài mới được phát hiện có phân bố ở trong tỉnh, bao gồm: Họ Amathusiidae có 2 loài là Zeuxidia sapphires Monastyrskii & Devyatkin, Stichophthalma louisa eamesi Monastiskii, Devyatkin & Uemura; Họ Hesperiidae có 6 loài là Pintara capiloides Devyatkin (1998), Thoressa monastyrskii annamita Devyatkin (1999), Darpa inopinata, Devyatkin (2001), Tagiades hybridus, Devyatkin (2001), Geosis tristis gaudialis, Devyatkin (2001), Capila lineate magna, Devyatkin & Monastyskii (1999). Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã ghi nhận có 3 loài lần đầu tiên được phát hiện ở tỉnh Thừa Thiên Huế, đây là các loài trước đây đã được mô tả từ các mẫu vật thu được ở nơi khác, bao gồm: Họ Satyridae có loài Elymnias saola Monastyrskii, 2004 (Pù Mát, Nghệ An) và Lethe melisana Monastyrskii, 2005 (Ngọc Linh, Kon Tum); Họ Amathusiidae có loài Aemora simulatrix Monastyrskii & Devyatkin, 2003 (Gia Lai). 7 Năm 2006, báo cáo kỹ thuật số 7 đánh giá khu hệ động thực vật tại vùng cảnh quan Hành lang xanh của Dickinson và Văn Ngọc Thịnh đã ghi nhận được 336 loài Bướm thuộc 10 họ.
Kết quả đánh giá cũng ghi nhận về sự phân bố mới, có nhiều loài lần đầu tiên ghi nhận ở Miền Trung Việt Nam mà trước đây nó chỉ được tìm thấy ở Miền Bắc hoặc Miền Nam Việt Nam như các loài Lethe minerva (Satyridae), Paralaxita thuisto (Riodinidae), Arhopala abseus, A. aurelia (Lycaenidae) (trước đây chỉ được tìm thấy ở miền Nam Việt Nam); Ypthima praenubila (Satyridae), Heliophorus epicles và Tajuria ister (Lycaenidae) trước đây được coi là phân bố ở miền Bắc Việt Nam. Có 5 loài bướm quý thuộc họ Hesperiidae: Bibasis miracula Evans, Capila penicillatum kiyila Fruhstorfer, Capila lineata magna Devyatkin & Monastyrskii, Seseria dohertyi salex Evans, Salanoemia noemi de Niceville chỉ tìm thấy ở Thừa Thiên Huế từ các nghiên cứu năm 1996. Qua 4 năm nghiên cứu, nhóm tác giả Hoàng Vũ Trụ và Tạ Huy Thịnh (2007) đã thu được 1434 mẫu bướm ngày ở phía tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam.
Kết quả phân tích đã ghi nhận tại khu vực nghiên cứu bắt gặp 282 loài bướm ngày thuộc 148 giống, 10 họ; số lượng loài ở khu vực chiếm tỷ lệ 28,3% tổng số loài bướm ngày đã biết ở Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu. Theo nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, Việt Nam có 4 loài bướm là Teinopalpus aureus, T. imperialis, Troides helena ceberus và Zeuxidia masoni được xếp vào danh lục nhóm II. Đây là nhóm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.
Tuy nhiên, đặc điểm sinh học và tình trạng các loài bướm này ở Việt Nam 8 còn ít được biết đến, vì vậy, rất khó khăn cho công tác bảo tồn loài, đặc biệt là bảo tồn nguyên vị. Tình hình nghiên cứu về Bướm ngày ở Vườn Quốc Gia Xuân Sơn Vườn Quốc Gia Xuân Sơn là Vườn Quốc Gia có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi nên khu hệ Côn trùng nói chung và khu hệ Bướm nói riêng khá là đặc trưng.