Luận văn nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của rừng trồng sa mộc cunnighamia lanceolata hook ở các tuổi 9 11 tại huyện mường khương tỉnh lào cai

Nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của rừng trồng sa mộc cunnighamia lanceolata hook ở tuổi 9-11 tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

2. PHẦN 2: PHẦN TỔNG QUAN

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

2.2. Những nghiên cứu về rừng trồng trên Thế giới

2.2.1. Nghiên cứu về sinh khối rừng trồng

2.2.2. Nghiên cứu về khả năng tích lũy Carbon rừng trồng

2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.3.1. Nghiên cứu về sinh khối

2.3.2. Nghiên cứu về tích lũy Carbon rừng trồng

2.4. Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.4.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.4.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Cơ sở phương phương pháp luận

3.3.2. Phương pháp thu thập số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng và lựa chọn mẫu

4.2. Nghiên cứu sinh khối của cây cá thể và của lâm phần

4.2.1. Cấu trúc sinh khối tươi cây cá thể

4.2.2. Cấu trúc sinh khối khô cây cá thể

4.3. Nghiên cứu tổng sinh khối toàn lâm phần

4.4. Nghiên cứu trữ lượng cacrbon cây cá thể và của lâm phần

4.4.1. Nghiên cứu trữ lượng Carbon hấp thụ của lâm phần Sa mộc

4.5. Lượng hóa giá trị thương mại từ hấp thụ CO2 của rừng Sa mộc ở tuổi 9 và tuổi 11

4.6. Xây dựng mối tương quan giữa sinh khối, trữ lượng carbon với chỉ tiêu sinh trưởng D1

4.6.1. Mối tương quan giữa tổng sinh khối tươi cây cá thể với nhân tố điều tra của lâm phần D1

4.6.2. Mối tương quan giữa tổng sinh khối khô cây cá thể với các nhân tố điều tra lâm phần D1

4.6.3. Mối tương quan giữa trữ lượng Carbon tích lũy trong cây cá thể với nhân tố điều tra lâm phần D1

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH HÌNH

Tóm tắt

I. Khả năng hấp thụ carbon của rừng sa mộc Cunnighamia lanceolata

Nghiên cứu tập trung vào khả năng hấp thụ carbon của rừng trồng Cunnighamia lanceolata tại huyện Mường Khương, Lào Cai. Kết quả cho thấy rừng sa mộc có khả năng hấp thụ CO2 đáng kể, góp phần giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Phương pháp nghiên cứu bao gồm đo đếm sinh khối và tính toán lượng carbon tích lũy trong các bộ phận của cây như thân, cành, lá. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá giá trị môi trường của rừng trồng, đặc biệt trong bối cảnh bảo tồn rừngquản lý rừng bền vững.

1.1. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp cây mẫu được sử dụng để xác định sinh khối và lượng carbon tích lũy. Các chỉ tiêu sinh trưởng như đường kính, chiều cao được đo đạc để thiết lập mối quan hệ với sinh khối. Phương pháp này cho phép ước lượng chính xác lượng carbon hấp thụ của rừng trồng, từ đó đánh giá hiệu quả của các chương trình trồng rừng trong việc giảm thiểu phát thải khí nhà kính.

1.2. Kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy rừng sa mộc ở tuổi 9 và 11 có khả năng tích lũy carbon khác nhau. Tổng lượng carbon tích lũy trong rừng trồng dao động từ 9,78 tấn/ha đến 16,60 tấn/ha. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sinh khối tươisinh khối khô của cây có mối tương quan chặt chẽ với các chỉ tiêu sinh trưởng, giúp xây dựng các mô hình dự đoán lượng carbon hấp thụ trong tương lai.

II. Vai trò của rừng sa mộc trong bảo vệ môi trường

Rừng sa mộc Cunnighamia lanceolata không chỉ có giá trị kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường. Nghiên cứu khẳng định rừng trồng này là một hệ sinh thái rừng hiệu quả trong việc hấp thụ CO2, góp phần giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Đồng thời, rừng sa mộc cũng giúp duy trì đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái tại khu vực huyện Mường Khương, Lào Cai.

2.1. Tác động đến biến đổi khí hậu

Rừng sa mộc đóng góp đáng kể vào việc giảm lượng CO2 trong khí quyển thông qua quá trình quang hợp. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc trồng và bảo vệ rừng sa mộc có thể trở thành một giải pháp hiệu quả trong các chương trình CDM (Cơ chế Phát triển Sạch) và REDD+ (Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng).

2.2. Bảo tồn và quản lý rừng bền vững

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý rừng bền vững để tối ưu hóa khả năng hấp thụ carbon của rừng sa mộc. Điều này bao gồm việc duy trì độ tuổi cây phù hợp, tăng cường công tác bảo vệ rừng, và áp dụng các phương pháp trồng rừng hiệu quả. Những biện pháp này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương.

III. Ứng dụng thực tiễn và giá trị kinh tế

Nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon của rừng sa mộc Cunnighamia lanceolata mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xác định giá trị thương mại của CO2 hấp thụ, tạo nguồn thu từ các chương trình CDM. Đồng thời, nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách bảo tồn rừngquản lý rừng bền vững tại huyện Mường Khương, Lào Cai.

3.1. Giá trị thương mại của CO2

Nghiên cứu đã lượng hóa giá trị thương mại của CO2 hấp thụ bởi rừng sa mộc. Kết quả cho thấy rừng trồng ở tuổi 9 và 11 có thể tạo ra nguồn thu đáng kể thông qua các chương trình CDM. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn khuyến khích việc trồng và bảo vệ rừng.

3.2. Chính sách bảo tồn rừng

Nghiên cứu đề xuất các chính sách bảo tồn rừng dựa trên kết quả nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon. Các chính sách này bao gồm việc tăng cường đầu tư vào các chương trình trồng rừng, nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của rừng, và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong các dự án CDMREDD+.

01/03/2025
Luận văn nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của rừng trồng sa mộc cunnighamia lanceolata hook ở các tuổi 9 11 tại huyện mường khương tỉnh lào cai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trên trái đất của chúng ta hiện nay vấn đề đang được quan tâm nhất là Biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu toàn cầu do sự gia tăng nồng độ CO2 Trong khí quyển đang gây nên những tác động tiêu cực về môi trường sống như nước biển dâng, hạn hán, bão, lũ lụt. ở Việt Nam những năm gần đây xuất hiện nhiều dạng thời tiết cực đoan như: hiện tượng thời tiết el nino,lũ quét, lũ ống, bão xuất hiện với mật độ ngày càng dày hơn. Gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân,thiệt hại lớn cho nhiều vùng và nhiều quốc gia.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng chung đến tất cả các quốc gia trên Thế giới nên biến đổi khí hậu trở thành mối quan tâm hàng đầu với hàng loạt sự kiện như: phê chuẩn công ước biến đổi khí hậu (năm 1994) ký nghị định thư Kyoto (năm 1997) và thành lập ban tư vấn và điều hành quốc gia về CDM (năm 2003). Những nghiên cứu trong nước và ngoài nước đều khẳng định biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng đến vùng biển của nước ta. Mực nước biển dâng làm cân bằng sinh thái bị tác động mạnh, Việt Nam là nước đứng thứ 4 trong 10 nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất do nước biển dâng. Việt Nam đã có những hoạt động tích cực để góp phần ngăn chặn sự nóng lên của trái đất trên phạm vi toàn cầu,đã quan tâm đến việc trồng rừng ,phủ xanh đất trống đồi núi trọc như: chương trình 327, chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng 661, chương trình PAM và nhiều chương trình bảo tồn khác do nhà nước, các tổ chức, các cá nhân đầu tư xây dựng và phát triển.Vào đầu tháng 5 năm 2018, Bộ NN&PTNT Việt Nam cho công bố hiện trạng rừng trên toàn quốc tính đến ngày 31/12/2017 tổng diện tích rừng là 14.381 ha,trong đó rừng tự nhiên là 10.451 ha, rừng trồng là 4.966 ha độ che phủ tương ứng là 41,45%.

h 2 Có một cơ chế phát triển sạch CDM cho phép các nước phát triển đạt được mục tiêu giảm phát thải bắt buộc của họ thông qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển nhằm hấp thụ khí CO2 từ khí quyển.Tuy nhiên việc trồng rừng nhằm hấp thụ CO2 theo cơ chế phát triển sạch CDM và việc nghiên cứu định hướng các giá trị và những lợi ích của rừng về môi trường,đặc biệt là khả năng hấp thụ CO2 vẫn là vấn đề mới ở Việt Nam. Để xác định được lượng carbon hấp thụ đòi hỏi phải có những nghiên cứu định lượng khả năng hấp thụ CO2 làm cơ sở xác định giá trị thương mại CO2 là việc làm cần thiết. Để góp phần giải quyết các vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của rừng trồng sa mộc (Cunnighamia lanceolata Hook) ở các tuổi 9, 11 tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai”.Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đề tài xác định được sinh khối và lượng carbon tích lũy được của rừng trồng Sa mộc ở các tuổi 9, 11 tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. - Đề xuất một số ứng dụng trong xác định sinh khối và carbon tích lũy của rừng trồng Sa mộc ở các tuổi 9, 11 tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

h 3 PHẦN 2 PHẦN TỔNG QUAN 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu. Thực vật hấp thu khí CO2 trong quá trình quang hợp và chuyển thành những hợp chất hữu cơ (đường, lipit, protein. Trong sinh vật sản xuất (thực vật), các hợp chất này là thức ăn cho sinh vật tiêu thụ.

Cuối cùng là xác bã thực vật, sản phẩm bài tiết sinh vật, phân hủy. Chúng ta thấy trong môi trường Carbon là chất vô cơ (khí). Nhưng được quần xã sinh vật sử dụng thành chất hữu cơ một phần làm thức ăn cho sinh vật tiêu thụ, phần lớn được tích lũy ở dạng sinh khối thực vật như trong các bộ phận của cây (thân, cành, lá. “Sinh khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong sinh quyển hoặc số lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích, thể tích vùng”.

Sinh khối là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện năng suất của rừng, sinh khối được dùng để nghiên cứu một số chỉ tiêu như dinh dưỡng hoặc các chỉ tiêu về môi trường rừng. Khi cơ chế phát triển sạch (CDM) xuất hiện, nghiên cứu sinh khối giữ vai trò quan trọng hơn, được dùng để xác định lượng carbon hấp thụ bởi thực vật rừng, góp phần định lượng giá trị môi trường do rừng đem lại. Cơ chế phát triển sạch (CDM) quy định tại Điều 12 của Nghị định thư Kyoto cho phép khu vực chính phủ và khu vực tư nhân của các nước công nghiệp hóa thực hiện các dự án giảm phát thải từ các nước đang phát triển và nhận được tín dụng dưới dạng “giảm phát thải được chứng nhận” (CERs)- khoản tín dụng này được tính vào chi tiêu giảm phát thải của các nước công nghiệp hóa. CDM thúc đẩy phát triển bền vững tại các nước đang phát triển đồng thời cho phép các nước phát triển góp phần vào mục tiêu giảm nồng độ khí nhà kính trong khí quyển.

Tại hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển – hay còn gọi là “Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất” tại Rio de Jancio năm 1992 h 4 Công ước của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu được thông qua. Mục tiêu của Liên hợp quốc là nhằm ngăn ngừa những hoạt động có hại của loài người đến khí hậu trên trái đất. Công ước có hiệu lực năm 1994. Cho đến nay trên toàn thế giới đã có 189 nước ký kết công ước (UNFCCC, 2005).

Những nghiên cứu về rừng trồng trên Thế giới 2.1 Nghiên cứu về sinh khối rừng trồng Sinh khối, năng suất gắn liền với quá trình quang hợp, là kết quả của quá trình sinh học, mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong kinh doanh rừng. Tiêu biểu cho lĩnh vực này có các tác giả sau: Liebig J. (1940) [36] lần đầu tiên đã định lượng về sự tác động phân bón tới thực vật và phát triển thành định luật “tối thiểu”. (1964) [37], Houghton RA, 1999 [31] tổng kết lịch sử ra đời và phát triển của sinh khối và năng suất trong công trình nghiên cứu của mình.

(1964) [37] đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng biểu đồ năng suất, đồng thời sự ra đời của phương trình sinh học quốc tế “IBP” (1964) và chương trình sinh quyển con người “MAB” (1971) đã tác động mạnh tới nghiên cứu năng suất và sinh khối. (1981) [31] đã công bố công trình “Sinh khối và tài liệu năng suất sơ cấp rừng thế giới” trong đó tập hợp hơn 600 công trình nghiên cứu đã được tóm tắt về sinh khối khô thân, cành, lá và một số thành phần sản phẩm sơ cấp của hơn 1200 lâm phần thuộc 46 quốc gia trên thế giới. Qua tham khảo, tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sinh khối và năng suất thực vật của các tác giả trên thế giới, có thể tựu chung lại các phương pháp như sau: h 5 + Phương pháp dioxyt carbon: Do Transeau (1926) khởi xướng được áp dụng đầu tiên ở Đức, Anh, Mỹ và Nhật bởi các tác giả Huber (1952), Monteith (1960 - 1962), Lemon (1960 - 1967), Inoue (1965-1968) + Phương pháp Chlorophyll: Được Aruga và Monsi đề xuất năm 1963 cho phép xác định hàm lượng chất diệp lục trên một đơn vị diện tích mặt đất là một chỉ tiêu biểu thị khả năng của hệ sinh thái hấp thu các tia bức xạ hoạt động quang tổng hợp được dùng để đánh giá sinh khối của hệ sinh thái. + Phương pháp thu hoạch: Khi xem xét các phương pháp nghiên cứu Whitaker R.

(1966) [45] cho rằng: “Số đo năng suất chính là số đo về tăng trưởng, tích lũy sinh khối ở cơ thể thực vật trong quần xã”. + Phương pháp cây mẫu: Năm 1967 Newbould P. J [40] đề nghị phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu sinh khối và năng suất của các quần xã từ các ô tiêu chuẩn. Phương pháp này được chương trình sinh học quốc tế “IBP” thống nhất áp dụng.

Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu trên, các nhà khoa học đã nghiên cứu cho các đối tượng khác nhau và đã thu được các kết quả đáng kể. + Phương pháp Oxygen: Do Edmonton và cộng sự đề xướng năm 1968 nhằm định lượng ô-xi tạo ra trong quá trình quang hợp của thực vật màu xanh (dẫn theo tài liệu [28]). Từ ý nghĩa đó, Whittaker R. (1968) [47] đã đề ra phương pháp “thu hoạch” để nghiên cứu năng suất sơ cấp thực.

Các tác giả đề nghị chọn ô tiêu chuẩn điển hình, chặt toàn bộ cây trong ô tiêu chuẩn, cân xác định trọng lượng. Tuy nhiên, việc chặt toàn bộ cây trong ô tiêu chuẩn và cân trọng lượng là khó thực hiện đối với rừng gỗ lớn, rừng đặc dụng và rừng gỗ quý. Tóm lại, những nghiên cứu trên để phục vụ cho việc xác định sinh khối rừng trồng, các tác giả đã đưa ra các phương pháp khác nhau để tính sinh h 6 khối, mỗi một phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng tùy vào điều kiện cụ thể và mục tiêu của công việc mà lựa chọn phương pháp thích hợp nhất để áp dụng. Nghiên cứu về khả năng tích lũy Carbon rừng trồng Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ phá rừng và suy thoái rừng (REDD) ở các nước đang phát triển là sáng kiến toàn cầu đã được Hội nghị các nước thành viên lần thứ 13 (COP13) của Công ước khung Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto thông qua tại Ba-li (Indonesia) năm 2007.

Hàng năm, lượng khí thải từ phá rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển chiếm khoảng 20% so với tổng lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu, vì thế sáng kiến REDD được hình thành từ ý tưởng giản đơn ban đầu là trả tiền cho các nước đang phát triển để làm giảm phát thải khí CO2 từ ngành lâm nghiệp. Một vấn đề đặt ra là cần phải lượng hóa được cacrbon cơ sở, hiện đang được lưu giữ trong các cánh rừng. Các bể chứa cacrbon chính trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới là các sinh khối sống của cây cối và thực vật dưới tán và khối lượng vật liệu chết của vật rơi rụng, mảnh vụn gỗ và các chất hữu cơ trong đất. Cacrbon được lưu trữ trong sinh khối sống trên mặt đất của cây thường là các bể chứa lớn nhất và ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi nạn phá rừng và suy thoái.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khả năng hấp thụ carbon của rừng sa mộc Cunnighamia lanceolata ở huyện Mường Khương, Lào Cai" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của rừng sa mộc trong việc hấp thụ carbon, từ đó góp phần vào việc giảm thiểu biến đổi khí hậu. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ khả năng sinh trưởng và phát triển của loài cây này mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và phát triển rừng để duy trì môi trường sống bền vững. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ khả năng hấp thụ carbon của các loại rừng là rất cần thiết cho các chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng trồng keo và bạch đàn trên địa bàn huyện Ba Vì và huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, nơi phân tích hiệu quả kinh tế và môi trường của các loại rừng trồng khác.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường bãi chôn lấp chất thải rắn Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An cũng sẽ cung cấp cái nhìn về các vấn đề môi trường liên quan đến quản lý chất thải, một khía cạnh quan trọng trong bảo vệ môi trường.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường công tác quản lý rừng sản xuất trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp quản lý rừng sản xuất, từ đó có thể áp dụng vào việc bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả hơn.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các giải pháp thực tiễn cho việc quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.