Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đồng bằng Bắc Bộ ĐBBB có vị trí quan trọng như đã nói ở trên nên vùng đất này luôn là chủ đề hấp dẫn và được nghiên cứu từ rất sớm bởi cả những học giả trong và ngoài nước. Chủ đề này đã thu hút và làm nổi danh nhiều học giả nghiên cứu khoa học xã hội nói chung trên khắp thế giới như: Pierre Gourou, David G.
Scott, Keith Taylor, Sakurai Yumio, Lương Văn Hy (Việt kiều ở Canada), Momoki Shiro,… Có thể nói người nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam nói chung và về ĐBBB nói riêng đã có một bề dày lịch sử. Theo kết quả thống kê của tác giả David G. Marr trong 1038 đầu sách, bài báo, tư liệu nghiên cứu về ĐBBB thì có đến 477 công trình là của các tác giả nước ngoài [139, tr. Những số liệu này đủ cho thấy mức độ quan tâm của người nước ngoài suốt gần hai thế kỷ qua đối với các vấn đề về ĐBBB là rất đáng nể.
Trong số những công trình nghiên cứu đó có không ít nghiên cứu tập trung vào văn hóa của làng Việt ĐBBB. Ban đầu là những ghi chép, khảo tả, sau đó là những phân tích, đánh giá và những phát hiện khoa học có giá trị. Có lẽ nghiên cứu về ĐBBB và người nông dân nơi đây sớm hơn cả bằng cách tiếp cận địa lý nhân văn là công trình của Pierre Gourou Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (1936). Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt không chỉ ở tính khoa học của nội dung nghiên cứu, tính hiệu quả của phương pháp điều tra thực địa, tính sắc sảo của những phân tích đánh giá mà còn ở tính cập nhật các vấn đề nghiên cứu.
Có thể nói những kết quả nghiên cứu, những dự báo của Pierre Gourou từ 70 năm trước cho đến nay vẫn còn tính thời sự như vấn đề đất đai, dân số và lực lượng lao động, công nghiệp và trao đổi thương mại,…. ở nông thôn châu thổ Bắc Kỳ. Đây là công trình mà sau này hầu như bất kì học giả nào nghiên cứu về nông thôn châu thổ sông Hồng cũng đều sử dụng làm tư liệu tham khảo. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phải đến sau thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ những năm 90, học giả nước ngoài từ nhiều quốc gia, nhiều chuyên ngành, nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đến Việt Nam nghiên cứu về các làng quê ĐBBB.
Chưa bao giờ khu vực này lại hấp dẫn đông đảo học giả nước ngoài đến thế. Họ đến từ khắp năm châu tiêu biểu là từ Nhật, Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc….Đặc biệt giai đoạn này còn có sự trở lại của đội ngũ các nhà nghiên cứu Việt kiều vốn trước kia bởi bối cảnh chính trị đã hạn chế sự trở về của họ, đặc biệt là rất khó để tiếp cận nghiên cứu ở vùng ĐBBB. Đi thực địa ở các làng ĐBBB của Việt Nam ngay từ những năm đầu sau Đổi mới, học giả Lương Văn Hy đã liên tiếp có những nghiên cứu có giá trị về sự thay đổi của người nông dân, của làng quê trong quá trình xây dựng nông thôn mới và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Đáng chú ý là cuốn Cuộc Cách mạng ở làng: truyền thống và biến đổi ở miền Bắc Việt Nam (1992) tập trung vào nghiên cứu những thay đổi về chính trị, xã hội đến đời sống văn hóa của làng Sơn Dương, tỉnh Phú Thọ.
Cùng thời kỳ với Lương Văn Hy, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài khác cũng có những tìm hiểu thú vị về làng Việt và nông dân ĐBBB như Nguyễn Tùng (Việt kiều Pháp) với nghiên cứu thực địa 8 thôn ở xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Tây (nay là Hà Nội) từ năm 1992 và đến năm 1999 ông cùng một số đồng nghiệp hoàn thành cuốn Mông Phụ: một làng Việt ở châu thổ sông Hồng. Trong suốt 4 năm (1996 -1999), Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã phối hợp với Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (Nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) trong một chương trình nghiên cứu lớn về ĐBBB. Một phần kết quả nghiên cứu đó được in trong cuốn Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (2002) của một số học giả Pháp với tên tuổi quen thuộc đã từng nghiên cứu về châu thổ Bắc Bộ Việt Nam như: Nguyễn Tùng quan tâm đến không gian làng thông qua khái niệm làng, không gian hành chính, không gian cư trú, không gian canh tác và đặc biệt là gắn kết không gian làng với không gian quốc gia trong sự nối kết, hòa nhập và phát triển; Olivier Tessier tìm hiểu về phong tục tập quán, lịch sử làng và đặc biệt là sự di cư tạm thời của dân làng với mong muốn cải thiện cuộc sống và tình cảm gắn bó với làng quê; Nelly Krowolski lại khám phá ra sự phục hồi và phát triển của mạng lưới chợ quê, Alain Fioruci 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu về dòng họ trong những sự liên quan đến tập tục cưới hỏi ở quá khứ và hiện tại của một làng quê ĐBBB điển hình là làng Mộ Trạch… Từ những kết quả nghiên cứu của các học giả nước ngoài dưới nhiều góc độ khác nhau, một điều không thể phủ nhận được là những nghiên cứu của họ đã đóng góp đáng kể cho ngành Việt Nam học cả về nội dung các vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận cũng như việc tạo ra các lý thuyết hoặc vận dụng lý thuyết vào các nghiên cứu trường hợp cụ thể. Từ những nghiên cứu của học giả nước ngoài, các nhà khoa học Việt Nam có dịp nhìn nhận lại những nghiên cứu của mình và thông qua các cơ hội hợp tác để học hỏi nhằm có được cái nhìn khách quan hơn về Việt Nam nói chung, về ĐBBB nói riêng.
Với các nhà nghiên cứu Việt Nam, lưu giữ văn bản về phong tục tập quán của làng Việt ở ĐBBB đã xuất hiện từ khá sớm trong các ghi chép của các nhà Nho từ thế kỷ thứ 19, phổ biến ở đời vua Tự Đức, Thành Thái. Sang đến những năm đầu thế kỷ 20 xuất hiện tác phẩm của Phan Kế Bính: Việt Nam phong tục; Toan Ánh: Nếp cũ, Hội hè đình đám …và một số bài viết ngắn giới thiệu về phong tục ở làng được in trên tạp chí nghiên cứu Việt Nam của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp. Giai đoạn sau đổi mới, những nghiên cứu về làng Việt ĐBBB tập trung vào hai xu hướng cơ bản: một là những nghiên cứu mang tính chất khái quát về nông thôn trong đó lấy làng làm đơn vị khảo sát và phân tích chính; hai là những nghiên cứu trường hợp cụ thể của từng làng. Ở xu hướng thứ nhất, trước hết phải kể đến các công trình: Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (Nguyễn Từ Chi, 1984); Làng Việt Nam- một số vấn đề kinh tế xã hội (Phan Đại Doãn, 1992); Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ 18 - 19 (Nguyễn Quang Ngọc, 1993), Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (Nguyễn Hải Kế, 1996),… và nhiều bài nghiên cứu có giá trị của các tác giả Diệp Đình Hoa (1998), Đào Thế Tuấn (1991), Bùi Xuân Đính (1994),… Sau này có một số chương trình nghiên cứu lớn tiêu biểu như: Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước của GS.
Phan Huy Lê và GS. Vũ Minh Giang, chủ biên (1996): Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay; Chương trình nghiên cứu về Làng xã ở đồng bằng sông Hồng (1996 -1999) do Viện Viễn Đông 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bác Cổ Pháp tại Hà Nội phối hợp với Trung tâm KHXH và NVQG (nay là Viện Hàn lâm KHXHVN) thực hiện. Đây là những chương trình nghiên cứu lớn, có giá trị thu hút một lực lượng đáng kể các nhà khoa học từ các trường Đại học, các Viện nghiên cứu đầu ngành tham gia. Ở xu hướng thứ hai, nghiên cứu theo hướng tiếp cận khu vực học, đặc biệt phải kể đến chương trình nghiên cứu Bách Cốc, với sự hợp tác của Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa, ĐHQG (nay là Viện VNH&KHPT) với các học giả Nhật Bản về nông thôn, nông nghiệp châu thổ sông Hồng đã thu hút được nhiều nhất các nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau cùng tham gia (hơn 200 các nhà khoa học), thời gian chương trình nghiên cứu dài nhất (14 năm).
Điểm mới và khác của chương trình nghiên cứu Bách Cốc trước hết là ở chỗ áp dụng triệt để phương pháp tiếp cận liên ngành (Interdisciplinary approach method), sử dụng các phương pháp, thiết bị kỹ thuật hiện đại để đo đạc, triển khai theo một kế hoạch, nhất quán chặt chẽ. Các công trình nghiên cứu về ca dao, tục ngữ có liên quan đến đồng bằng Bắc Bộ Một trong những sáng tạo có giá trị của vùng ĐBBB là văn học dân gian. Văn học dân gian là sự phản ánh sinh động cuộc sống qua ngôn ngữ văn học với những điệu ca, vần thơ, hò vè đến những câu ca dao, tục ngữ. Mỗi khúc quanh của lịch sử Việt Nam lại rộ lên các loại hình sáng tác văn học dân gian.
Điều đó thể hiện thái độ, ứng xử của nhân dân đối với tất cả quan hệ xã hội thông qua các thể loại đó. Chính vì vậy văn học dân gian nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới học giả Việt Nam. Là một chất liệu quý thể hiện rõ tâm lý tình cảm của người Việt nên từ lâu các tác giả lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu,. đều sử dụng ca dao, tục ngữ trong các sáng tác.
Trong sách về địa lý, thiên văn, các loại địa phương chí, ký văn,. ca dao tục ngữ được các tác giả dẫn chứng để minh họa cho ý kiến của mình khi đề cập đến tính cách con người, lý giải sự kiện hay hiện tượng nào đó, coi ca dao, tục ngữ như những tổng kết kinh nghiệm, khái quát thế ứng xử mang tính thuyết phục cao. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cùng với các tác phẩm chữ Nôm, ca dao, tục ngữ còn được tập hợp, ghi lại bằng chữ quốc ngữ và kèm theo đó là khảo cứu, chú giải. Tục ngữ cổ ngữ gia ngôn là cuốn sách sưu tầm ca dao tục ngữ sớm nhất hiện được viết bằng chữ quốc ngữ.
Sách do Huỳnh Tịnh Của biên soạn, xuất bản vào năm 1896. Tác giả đã sưu tầm cả ca dao, tục ngữ, thành ngữ và sắp xếp theo vần chữ cái đầu câu.