Quá Trình Khôi Phục Vị Thế Của Nước Đức Trong Quan Hệ Quốc Tế Sau Hội Nghị Versailles (1919 — 1933)

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp lịch sử quá trình khôi phục vị thể của nước đức trong quan hệ quốc tế sau hội nghị, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ

Chuyên ngành

Lịch sử thế giới

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

98
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NƯỚC ĐỨC SAU HIỆP ƯỚC VERSAILLES (1919 - 1923)

1.1. Hiệp ước Versailles (1919)

1.2. Hoàn cảnh ra đời

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH KHÔI PHỤC VỊ THẾ CỦA NƯỚC ĐỨC TRONG NHỮNG NĂM 1924 - 1929

3. CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH KHÔI PHỤC VỊ THẾ CỦA NƯỚC ĐỨC TRONG NHỮNG NĂM 1929 - 1933

3.1. Những nhân tố tác động đến quá trình khôi phục của nước Đức giai đoạn 1929

3.2. Tình hình thế giới (1929-1933)

3.3. Tình hình nước Đức giai đoạn (1929-1933)

3.4. Sự khôi phục vị thế của nước Đức thông qua động thái quân sự trong những năm 1929-1933

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quá trình khôi phục vị thế của nước Đức 1919 1933

Quá trình khôi phục vị thế của nước Đức trong quan hệ quốc tế từ năm 1919 đến 1933 là một giai đoạn đầy biến động. Sau khi ký kết Hiệp ước Versailles, nước Đức phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Những điều khoản khắc nghiệt của hiệp ước đã khiến nền kinh tế và chính trị Đức rơi vào khủng hoảng. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của các chính trị gia như Gustav Stresemann, nước Đức đã tìm cách khôi phục vị thế của mình trên trường quốc tế.

1.1. Hiệp ước Versailles và tác động đến nước Đức

Hiệp ước Versailles được ký kết vào năm 1919 đã đặt ra nhiều điều khoản nghiêm ngặt đối với nước Đức. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế mà còn làm suy yếu chính trị và xã hội của quốc gia này. Nước Đức phải chịu trách nhiệm bồi thường chiến tranh, dẫn đến khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.

1.2. Tình hình chính trị và xã hội Đức sau chiến tranh

Sau chiến tranh, nước Đức rơi vào tình trạng hỗn loạn chính trị. Các phong trào cách mạng diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của Cộng hòa Weimar. Tuy nhiên, chính phủ này gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì ổn định và khôi phục lòng tin của người dân.

II. Những thách thức lớn trong quá trình khôi phục vị thế của Đức 1924 1929

Giai đoạn từ 1924 đến 1929 là thời kỳ quan trọng trong quá trình khôi phục vị thế của nước Đức. Mặc dù có những nỗ lực đáng kể để cải thiện tình hình kinh tế, nhưng nước Đức vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức từ cả bên trong và bên ngoài. Khủng hoảng kinh tế 1929 đã làm trầm trọng thêm tình hình.

2.1. Sự hỗ trợ từ các cường quốc và kế hoạch Dawes

Kế hoạch Dawes được thực hiện vào năm 1924 nhằm giúp nước Đức ổn định kinh tế. Sự hỗ trợ tài chính từ Mỹ đã giúp Đức phục hồi một phần nền kinh tế, nhưng cũng tạo ra sự phụ thuộc vào các khoản vay quốc tế.

2.2. Tình hình xã hội và chính trị trong giai đoạn này

Mặc dù có sự phục hồi kinh tế, nhưng tình hình chính trị vẫn không ổn định. Các đảng phái cực đoan, bao gồm Đảng Quốc xã, bắt đầu thu hút sự chú ý của người dân, dẫn đến sự phân cực trong xã hội.

III. Sự khôi phục vị thế của nước Đức qua chính sách đối ngoại 1929 1933

Trong giai đoạn 1929-1933, nước Đức đã thực hiện nhiều chính sách đối ngoại nhằm khôi phục vị thế quốc tế. Sự gia tăng quyền lực của Adolf Hitler và Đảng Quốc xã đã thay đổi hoàn toàn cục diện chính trị và ngoại giao của Đức.

3.1. Chính sách đối ngoại của Đức dưới thời Hitler

Chính sách đối ngoại của Đức dưới sự lãnh đạo của Hitler tập trung vào việc phục hồi sức mạnh quân sự và thu hồi các vùng lãnh thổ đã mất. Điều này dẫn đến những căng thẳng trong quan hệ với các cường quốc châu Âu.

3.2. Quan hệ Đức Pháp và những thỏa thuận quốc tế

Mối quan hệ giữa Đức và Pháp trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết. Các thỏa thuận quốc tế như Hiệp ước Locarno không thể ngăn chặn sự trỗi dậy của Đức Quốc xã và những tham vọng bành trướng của Hitler.

IV. Kết quả và ảnh hưởng của quá trình khôi phục vị thế của Đức

Quá trình khôi phục vị thế của nước Đức từ năm 1919 đến 1933 đã để lại nhiều bài học quan trọng. Những chính sách sai lầm và sự thiếu ổn định chính trị đã dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng cho châu Âu và thế giới.

4.1. Hệ lụy từ chính sách đối ngoại của Đức

Chính sách đối ngoại quyết liệt của Đức đã dẫn đến sự gia tăng căng thẳng quốc tế. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến nước Đức mà còn đến toàn bộ châu Âu, tạo ra một bầu không khí bất ổn.

4.2. Tương lai của nước Đức trong quan hệ quốc tế

Sự trỗi dậy của Đức Quốc xã đã đặt ra nhiều thách thức cho hòa bình thế giới. Tương lai của nước Đức trong quan hệ quốc tế sẽ phụ thuộc vào cách mà các cường quốc khác phản ứng với những hành động của Hitler.

V. Kết luận về quá trình khôi phục vị thế của nước Đức

Quá trình khôi phục vị thế của nước Đức từ năm 1919 đến 1933 là một giai đoạn phức tạp và đầy biến động. Những bài học từ giai đoạn này vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ quốc tế hiện đại.

5.1. Những bài học rút ra từ lịch sử

Lịch sử cho thấy rằng việc khôi phục vị thế quốc tế không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh quân sự mà còn cần đến sự ổn định chính trị và kinh tế. Các quốc gia cần học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ để xây dựng một tương lai hòa bình.

5.2. Tương lai của quan hệ quốc tế

Tương lai của quan hệ quốc tế sẽ phụ thuộc vào khả năng các quốc gia duy trì hòa bình và ổn định. Việc hiểu rõ lịch sử sẽ giúp các nhà lãnh đạo đưa ra những quyết định đúng đắn hơn trong tương lai.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tình hình nước Đức sau Hiệp ước Versailles (1919 - 1923) Chương 2. Quá trình khôi phục vị thế của nước Đức trong những năm 1924 - 1929 Chương 3. Quá trình khôi phục vị thế của nước Đức trong những năm 1929 - 1933 CHUONG 1.

TINH HÌNH NƯỚC DUC SAU HIỆP UOC VERSAILLES (1919 - 1923) 1. Hiệp ước Versailles (1919) 1. Hoàn cảnh ra đời Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc không lâu, ngày 18 tháng 1 năm 1918, các nước thắng trận đã tô chức Hội nghị hòa bình Paris dé thiết lập trật tự thế giới mới. Các cường quốc thắng trận đều có những tham vọng vả toan tính riêng tại hội nghị này.

Về phía Mỹ, Tông thống Mỹ Woodrow Wilson chu trương thiết lập nền “hòa bình không có chiến thang” (peace without victory) và đảm bảo rằng Đức sẽ không bị trừng phạt quá nặng nề. Ngay từ đầu năm 1918, một năm trước khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, Tổng thống Woodrow Wilson đã dé ra kế hoạch, gọi là 14 điểm (Fourteen Points) nhằm lập lại hòa bình và tô chức lại the giới sau chiên tranh theo quan điềm của Mỹ. Kê hoạch 14 điểm (Fourteen Points) bao gồm các nội dung như sau: ]; Húy bỏ các thương lượng bí mật; 2. Đảm bảo tự do di lại trên biên trong thời kỳ hòa bình cũng như chiến tranh;.

Gỡ bỏ các hàng rào kinh tế giữa các nước;. Đảm bảo giảm thiểu trang bị quân sự đủ đáp ứng nhu cầu an ninh nội địa;. Điều chính một cách tự do, công bằng quyên yêu sách của các thuộc địa, đặt mối quan tâm tới quyên lợi của những người dân bị tác động ngang hàng với lợi ích của các chính phủ liên quan tới yêu sách; Các đạo quân ngoại quốc rút ra khỏi đất Nga và phục hồi các miền đất bị người Nga chính phục;. Phục hôi nên độc lập cho nước Bi: 8.

Trao trả 2 miền Alsace và Lorraine về cho nước Pháp; 9. Điều chỉnh lại biên giới của nước Y; 10. Phát triển quyền tự tr] cho các dân tộc Áo - Hung: 11. Phục hồi các xứ Rumani, Serbia và Montenegro; Serbia được tự do và đảm bảo an ninh các con đường thông ra biển: đảm bảo về độc lập chính trị, kinh tế và toàn vẹn lãnh thô cho một số quốc gia vùng Balkan.

Phát triển quyên tự trị dân tộc cho Thổ Nhĩ Kỳ, đảm bảo eo biến Dardanelles từ Biên Den dan tới Địa Trung Hải phải được mở thường xuyên cho tau thuyền qua lại; 13. Đảm bảo một xứ Ba Lan độc lập do dân tộc Ba Lan cư ngụ và có đường tiếp cận ra biên; 14. Thành lập một tô chức của các quốc gia trên thế giới nhằm bảo vệ độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thé cho các nước thành viên.364-369) Bên cạnh đó, dé ngăn chặn sự bá quyền của Anh va Pháp ở châu Âu, phái đoàn Mỹ chủ trương duy trì một nước Đức đủ mạnh. Như vậy, Mỹ sẽ củng có được vị trí của mình ở châu Âu, đặc biệt là phải duy trì được nước Đức đẻ sử dụng nước này như một phương tiện chống lại nước Nga Xô viết.

Tuy nhiên, đại điện của hai nước Pháp và Anh, Georges Clemenceau và David Lloyd George, lại cho răng việc trừng phạt Đức một cách thích đáng đồng thời duy trì thế yếu của nước này là cách duy nhất dé dén bù cho những tôn thất to lớn của cuộc chiến. Đối với Pháp, quốc gia này muốn làm suy yếu Đức đến mức tối đa vì những nguyên nhân sau đây: Pháp và Đức là hai quốc gia láng giềng và trong lịch sử, họ thường xuyên xảy ra những xung đột quân sự mà Pháp hau như đều thua trận (trừ trận đánh với Napoleon I trong trận Jena năm 1806). Sau Chiến tranh thé giới thứ nhất với sự thành công của Cách mạng tháng Mười ở 10 Nga, Pháp lại mất đi một người đồng minh thân cận là Nga, trong liên minh Pháp - Nga chong Đức. Mặc dù là nước thăng trận sau Chiến tranh thế giới thứ nhất nhưng Pháp vẫn phải ganh chịu những hậu quả nặng nê do chiến tranh gây ra.

Nếu xét về tương quan lực lượng sau Thế chiến, dân số Pháp thấp hơn nhiều so với Đức. Chính vì thế, Pháp lo ngại sự trỗi đậy của nước Đức sẽ làm ảnh hưởng đến vị thé của nước Pháp. Pháp muốn làm suy yếu nước Đức đến tối đa nhằm thiết lập quyền bá chủ ở châu Âu. Pháp đòi sap nhập vùng than Sarre và các miền đất khác của Đức ở bờ Tây sông Rhine, giúp đỡ các nước Đông Nam Âu (Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumani.) nhằm xây dựng khối liên minh chống Đức và nước Nga Xô viết, Về phía Anh, quốc gia này, sau Thế chiến, vẫn là bá chủ thé giới về hai quân và thuộc địa, vì vậy, họ muốn tìm cách làm suy yếu hai thế mạnh này của Đức, đề tránh sự cạnh tranh của Đức trong tương lai, bằng cách giành các thuộc địa của Đức vào đề quốc của mình.

Đồng thời, Anh cũng tìm cách ngăn chặn Pháp mạnh lên và muốn sử dụng Đức làm đối thủ, cản trở sự bá quyền của Pháp ở châu Âu. Trong khi Anh chi muốn bảo vệ vị trí số một về hải quân và thuộc địa, đồng thời muốn dùng Đức làm đối thủ kiềm chế sự vươn lên của Pháp. Về phía Pháp thì lại quan tâm đến vị trí cường quốc của mình và lo sợ sự trỗi day của Đức. Chính vì thé, so với Anh thì Pháp muốn làm suy yếu Đức với mức độ cao hơn.

Xét về mức độ dé xuất trong hội nghị cho thay Pháp muốn làm suy yêu nước Đức đến mức kiệt qué nhất dé dam bảo cho vị thé và lợi ích của mình. Các nước Ý, Nhật cũng đưa ra những yêu sách riêng của họ. Nhật Bản đòi thay thế Đức chiếm bán đảo Sơn Đông của Trung Quốc, dự định chiếm vùng Viễn Đông của nước Nga Xô viết, mở rộng ảnh hướng ở khu vực châu A - Thái Bình Dương. Nước Ý muốn mở rộng lãnh thé ra vùng Địa Trung Hải 11 và vùng Balkan.

Các nước nhỏ như Ba Lan và Rumani cũng đòi mở rộng lãnh thô của mình. Hội Quốc Liên được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1920). Theo công ước của Hội, những mục tiêu chủ yếu của tô chức này gồm ngăn ngừa chiến tranh thông qua an ninh tập thé và giải trừ quân bị, giải quyết những tranh chấp quốc tế thông qua đàm phán và trọng tài (Lillian Goldman Law Library, 2008). Tuy nhiên, tô chức này đã không thực hiện hiệu quả như mục đích thành lập của nó.

Mặc dù trong thập niên đầu, Hội Quốc Liên đã giải quyết tương đối thành công một số van dé do Chiến tranh thé giới thứ nhất gây ra và các nguyên tắc được đặt ra ban đầu vẫn hiệu quả. Tuy nhiên, Hội Quốc Liên liên tiếp thất bại trong việc ngăn chặn các cuộc chiến tranh xâm lược và sự sụp đô với tư cách là một tê chức hòa bình quốc tế (Christian, T. Một trong những nguyên nhân của van dé này là Hội Quốc Liên, ban đầu, dự kiến sẽ bao gồm sự tham gia của toàn bộ các quốc gia trên thé giới, tuy nhiên có nhiều quốc gia vẫn chưa gia nhập hoặc chi làm thành viên một thời kỳ ngắn, đáng chú ý là sự thiếu vắng của Mỹ: “Tổng thống Woodrow Wilson từng xúc tién việc hình thành Hội Quốc Liên và có ảnh hưởng lớn đối với hình thức của tổ chức, song Thượng nghị viện Hoa Kỳ bỏ phiếu không gia nhập tô chức vào ngày 19 tháng 11 năm 1919” (Knock, T. Các hiệp ước mà các nước bại trận phải ký với các nước thắng trận đều mang tính chất nô dịch.

Ví như, lãnh thô Bulgaria bị thu hẹp lại so với trước kia đo phải cắt một số đất đai cho Nam Tư, Hy Lạp, Romania. Ngoài ra, Bulgaria phải bồi thường chiến phí là 2,25 ti franc', phải nộp cho các nước thắng trận 37.000 gia súc nhỏ, đồng thời phải hạn chế lực lượng vũ trang xuống còn không quá 20.000 người (Lawrence Shirer, W. Về phía nước Đức, đồng minh sẽ định sau số tiền bồi thường * Đơn vị tiền tỷ của Pháp 12 chiến tranh, nhưng Đức phải trả khoản đầu gồm 5 tỉ USD trong thời gian 1919-1921. hòa ước giới hạn quân đội theo số quân 100.000 người tinh nguyện, cam sở hữu máy bay va xe tăng (Lawrence Shirer, W.

Chính vì thế, Hòa ước Versailles được người Đức nhìn nhận như một sự sỉ nhục, gây nên làn sóng phẫn nộ và bất mãn trên toàn bộ nước Đức. Người Đức không chấp nhận việc họ phải gánh trách nhiệm đã gây ra chiến tranh và phải bôi thường thiệt hại: thay vào đó, dân chúng Dức nghĩ rằng nước Đức đã bị chèn ép một cách tui nhục. Hòa ước Versailles lúc bây giờ được gọi với cái tên chế giêu "bán Hoa ước Versailles Vô lý” (Lawrence Shirer, W. Dưới ảnh hưởng của hiệp ước, Đức trở thành một quốc gia bị chia rẽ.

Trong hệ thống các Hòa ước Versailles, vấn đề của Đức (Hiệp ước Versailles) là điểm gây tranh cãi nhiều nhất, nguyên nhân bắt nguồn từ sự bất đồng quan điểm giữa các cường quốc đứng đầu. Về phía Mỹ, dù đạt được mục tiêu thành lập Hội Quốc Liên, thế nhưng một số điều khoản quan trọng trong chương trình /4 điểm của nước này bị các cường quốc khác như Anh và Pháp gạt bỏ. Chính vì vậy, Mỹ đã không chấp thuận việc gia nhập Hội Quốc Liên và dần trở lại chủ nghĩa biệt lập vốn có của mình. Pháp dù đạt được nhiều lợi ích sau hòa ước nhưng một số lãnh đạo của nước này cũng tỏ ra bất mãn với việc không đạt được mục tiêu phá hủy tiềm năng chiến tranh của Đức.

Ngay sau khi biết Hiệp ước Versailles được ký kết, Thống chế Pháp Ferdinand Foch đã tức giận đưa ra lời dự báo day cay đắng: “Day không phải một hiệp ước hòa bình. Đây là một thỏa thuận đình chiến trong vòng 20 năm” (Dennis Edwin, S. Cuối cùng, Hội nghị thống nhất thông qua công ước thành lập Hội Quốc Liên (ngày 10 thang 1 năm 1920). Ngoài Hiệp ước Versailles ký với Đức ngày 28 tháng 6 năm 1919, những hiệp ước khác cũng lần lượt được ký với các nước đồng minh của Đức: Hoà ước Saint - Germain ký với Áo ngày 10 tháng 9 năm 1919; Hiệp ước Neuilly ký với Bulgaria ngày 27 tháng 11 18 năm 1919; Hiệp ước Trianon ky với Hungary ngày 4 tháng 6 năm 1920; Hiệp ước Sevres với Tho Nhĩ Kỳ ký ngày II tháng 8 năm 1920.

Những hiệp ước trên đây hợp thành Hệ thống các Hiệp ước Versailles.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ