Chương I. Giới thiệu chung 1. Giới thiệu sơ lược về kim loại nặng [1, 3] Kim loại nặng là những kim loại có khối lượng riêng lớn hơn 5g/cm3. Các kim loại quan trọng nhất trong việc xử lý nước là Zn, Cu, Pb, Cd, Hg, Ni, Cr, As…Một vài kim loại trong số này có thể cần thiết cho cơ thể sống khi chúng ở một hàm lượng nhất định như Zn, Cu, Fe…tuy nhiên khi ở một lượng lớn hơn nó sẽ trở nên độc hại.
Những nguyên tố như Pb, Cd, Ni không có lợi ích nào cho cơ thể sống. Những kim loại này khi đi vào cơ thể động vật hoặc thực vật ngay cả ở dạng vết cũng có thể gây độc. Trong tự nhiên kim loại tồn tại trong 3 môi trường: môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất và môi trường nước. Trong môi trường nước thì kim loại nặng tồn tại dưới dạng ion hoặc phức chất…Trong ba môi trường thì môi trường nước là môi trường có khả năng phát tán kim loại nặng đi xa nhất và rộng nhất.
Trong những điều kiện thích hợp kim loại nặng trong môi trường nước có thể phát tán vào trong môi trường đất hoặc khí. Kim loại nặng trong nước làm ô nhiễm cây trồng khi các cây trồng này được tưới bằng nguồn nước có chứa kim loại nặng hoặc đất trồng cây bị ô nhiễm bởi nguồn nước có chứa kim loại nặng chảy qua. Do đó kim loại nặng trong môi trường nước có thể đi vào cơ thể con người thông qua con đường ăn hoặc uống. Các quá trình sản xuất công nghiệp, quá trình khai khoáng, quá trình tinh chế quặng, kim loại, sản xuất kim loại thành phẩm… là các nguồn chính gây ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường nước.
Thêm vào đó, các hợp chất của kim loại nặng được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp khác như quá trình tạo màu và nhuộm, ở các sản phẩm của thuộc da, cao su, dệt, giấy, luyện kim, mạ điện và nhiều ngành khác… cũng là nguồn đáng kể gây ô nhiễm kim loại nặng. Khác biệt so với nước thải ngành công nghiệp, nước thải sinh hoạt thường 2 GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SV: Nguyễn Thị Huyền – MSV: 121017 Khóa luận tốt nghiệp có chứa trong đó một lượng kim loại nhất định bởi quá trình tiếp xúc lâu dài với Cu, Zn hoặc Pb trong đường ống hoặc bể chứa. Tác dụng sinh hóa của kim loại nặng đối với con người và môi trường [2] Các kim loại nặng ở nồng độ vi lượng là các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người.
Tuy nhiên nếu như vượt quá hàm lượng cho phép chúng lại gây ra các tác động hết sức nguy hại tới sức khỏe con người. Các kim loại nặng xâm nhập vào cơ thể thông qua các chu trình thức ăn. Khi đó, chúng sẽ tác động đến các quá trình sinh hóa và trong nhiều trường hợp dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về mặt sinh hóa. Các kim loại nặng có ái lực lớn với các nhóm - SH, - SCH3 của các nhóm enzim trong cơ thể.
Vì thế các enzim bị mất hoạt tính, cản trở quá trình tổng hợp protein của cơ thể. Một vài nét về nước thải có chứa kim loại nặng Nước thải của ngành xi mạ [3] Nước thải của ngành xi mạ phát sinh không nhiều, nồng độ các chất hữu cơ thấp nhưng hàm lượng các kim loại nặng nước, tạo ra sự tích tụ sinh học đáng lo ngại theo chiều dài chuỗi thức ăn. Ngoài ra còn ảnh hưởng đến đường ống dẫn nước, gây ăn mòn, xâm thực hệ thống cống rãnh, ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng, vật nuôi, canh tác nông nghiệp, làm thoái hoá đất do sự chảy tràn và thấm của nước thải. Nước thải từ các quá trình xi mạ kim loại, nếu không được xử lý, qua thời gian tích tụ và bằng con đường trực tiếp hay gián tiếp sẽ tồn đọng trong cơ thể con người và gây các bệnh nghiêm trọng như viêm loét da, viêm đường hô hấp, ung thư,… 3 GVHD: TS.
Nguyễn Thị Kim Dung SV: Nguyễn Thị Huyền – MSV: 121017 Khóa luận tốt nghiệp Nước thải từ quá trình xi mạ có thành phần đa dạng về nồng độ và pH biến đổi rộng từ 2 ÷ 3 đến 10 ÷ 11. Đặc trưng chung của nước thải ngành xi mạ là chứa hàm lượng cao các muối vô cơ và kim loại nặng. Tuỳ theo kim loại của lớp mạ mà nguồn ô nhiễm có thể là Cu, Zn, Cr, Ni,… và cũng tuỳ thuộc vào loại muối kim loại được sử dụng mà nước thải có chứa các độc tố như xianua, sunfat, amoni, crômat,… Các chất hữu cơ ít có trong nước thải xi mạ, phần chủ yếu là chất tạo bông, chất hoạt động bề mặt … nên BOD, COD thường thấp và không thuộc đối tượng xử lý. Đối tượng xử lý chính là các ion vô cơ mà đặc biệt là các muối kim loại nặng như Cr, Ni, Cu, Fe, … Nước thải của làng nghề tái chế kim loại [8, 10] Hiện nay các cơ sở tái chế kim loại nằm trong khu dân cư nên các chất thải trong quá trình sản xuất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng, làm suy giảm chất lượng cuộc sống của người dân.
Tỷ lệ người mắc bệnh ở các làng nghề đang có xu hướng tăng. Tuổi thọ cũng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc. Tỷ lệ người mắc bệnh thần kinh, phổi, hô hấp, ngoài da, điếc và ung thư chiếm tới 60% tại các làng sản xuất kim loại, tái chế phế thải. Chất thải từ các làng nghề đã và đang trực tiếp hoặc gián tiếp làm ảnh hưởng đến môi trường đất nông nghiệp, chủ yếu là đất trồng lúa.
Mức độ ảnh hưởng của các hoạt động tái chế này đến chất lượng môi trường đất và sự tích lũy của các kim loại nặng trong cây trồng. Hàm lượng các kim loại (Cd, Zn, Pb, và Cu) trong đất ở vùng ảnh hưởng của nước thải từ làng nghề có xu hướng được tích lũy cao hơn nhiều so với đất không bị ô nhiễm. Về lâu dài những tác động này sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe người dân. Nguyễn Thị Kim Dung SV: Nguyễn Thị Huyền – MSV: 121017 Khóa luận tốt nghiệp Tại các làng nghề tái chế kim loại lượng nước sử dụng không nhiều, chỉ dùng cho nước làm mát, vệ sinh thiết bị, nhà xưởng và nước thải từ quá trình tẩy rửa và mạ kim loại nên có hàm lượng các chất độc hại khá cao, đặc biệt là các kim loại nặng.
Kết quả nghiên cứu về hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thải của một số làng nghề tái chế kim loại thu được cho thấy tình trạng báo động của các làng nghề tái chế kim loại. Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thải của một số làng nghề tái chế kim loại (mg/l) Stt Nơi lấy mẫu Cr2+ Fe Pb2+ Cu2+ Zn2+ Al3+ 1 Chỉ Đạo – Bắc Ninh 0.6 - 2 Vân Chàng – Nam Định 63 12 0.4 3 Phước Kiều – Quảng Ninh 0.1 4 Xuân Tiến – Nam Định 0.25 2 - Ô nhiễm từ các làng nghề tái chế thuộc mức độ ô nhiễm nặng. Do việc thu gom và thải bỏ bừa bãi, nên ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và sức khoẻ người dân rất nghiêm trọng. Hầu hết các ao hồ trong các làng nghề không thể nuôi được cá, do đã tiếp nhận một lượng nước thải khá lớn từ hoạt động sản xuất với nồng độ ô nhiễm cao, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường và do rác thải bừa bãi gây bồi lắng và cản trở dòng chảy của nước sông hồ.
Nguồn gốc phát sinh Nguồn thải chính của đồng trong nước thải công nghiệp là nước thải của quá trình mạ và nước thải của quá trình rửa, ngâm trong bể có chứa đồng. Trong các quá trình chứa, đựng các dung dịch, hiện tượng oxi hóa làm đồng tan vào trong dung dịch. Còn trong các quá trình mạ, đồng được sử dụng làm nguyên liệu chính hoặc chỉ là lớp phủ cho các kim loại như vàng, bạc… 5 GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SV: Nguyễn Thị Huyền – MSV: 121017 Khóa luận tốt nghiệp Đồng trong nước thải thường tồn tại dưới các dạng: các muối Cu2+ hoặc tồn tại dưới các dạng muối phức.
Ví dụ như khi đồng được kết hợp với NaOH tạo ra Na2[Cu(OH)4]. Độc tính của đồng Đồng có độc tính cao đối với hầu hết các thực vật thủy sinh, ở nồng độ thấp ≤ 0.1 mg/l, nó đã gây ra ức chế cho các loại thực vật không phát triển. Ngoài ra đồng còn có khả năng làm mất muối bởi vậy làm giảm khả năng thẩm thấu của tế bào. Đối với con người thì đồng không quá độc bởi sự kết hợp trung gian của đồng giữa các axit mạnh và axit yếu.
Cũng không có bằng chứng nào chứng tỏ đồng là chất gây ung thư cho con người. Tuy nhiên cũng như các kim loại nặng khác, khi ở nồng độ cao , đồng có thể tích lũy vào các bộ phận trong cơ thể như gan, thận… và gây tổn thương cho các cơ quan đó. Nguồn gốc phát sinh Nguồn gốc tự nhiên: Hàm lượng chì trong vỏ trái đất 10 ÷ 20 mg/kg. Trong nước ngầm và nước mặt nồng độ chì không vượt quá 10µg/l Trong không khí lượng chì đưa vào khí quyển khoảng 330.
Nguồn gốc nhân tạo: Lượng chì tiêu thụ trên thế giới ngày một tăng do vậy lượng chì thải ra môi trường ngày càng lớn. Các nguồn thải ra chì chính là: + Khai thác quặng có chứa chì như: mỏ chì sunfit (PbS), chì cacbonat (PbCO3) và chì sunfat (PbSO4)… 6 GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SV: Nguyễn Thị Huyền – MSV: 121017 Khóa luận tốt nghiệp + Tinh luyện chì + Sản xuất pin, acquy có sử dụng điện cực chì + Sử dụng xăng có pha chì + Quá trình luyện thép + Sản xuất chất màu, thuốc trừ sâu có sử dụng chì và một số quá trình sản xuất khác. Độc tính Các tác động của chì lên quá trình sinh hóa, đặc biệt lên quá trình tổng hợp heme (heme là nhóm thay thế chứa nguyên tố sắt màu đỏ C34H32N4O4Fe của hemoglobin và myoglobin) cả ở người lớn và trẻ em.
Khi nồng độ chì trong máu cao người ta thấy: + Tăng tỉ lệ protoporphyrin ở hồng cầu + Tăng đào thải coproporhyrin và axit - aminolevulinic trong nước tiểu, vì vậy axit này không được tích lũy trong cơ thể. + Do thiếu heme để tổng hợp hemoglobin nên gây bệnh thiếu máu khi nồng độ chì lên tới 1.92µmol/l (40µg/dl) + Chì ảnh hưởng đến hệ thần kinh, hệ sinh sản và máu của con người và động vật, chì được tích lũy trong xương, mề và máu.