CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP TỈNH QUẢNG BÌNH.1 Khái niệm vốn đầu tư Từ trước đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về vốn, mỗi quan điểm đều có cách tiếp cận riêng. Nhưng có thể nói với thực chất chính là biểu hiện bằng tiền, là giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Vốn là biểu hiện bàng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư.
Nguồn lực có thể là của cải vật chất tài nguyên thiên nhiên là sức lao động và tất cả các tài sản vật chất khác. Trong nền kinh tế thị trường, vốn được quan niệm là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu trong các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp. Như vậy, vốn là yếu tố không thể thiếu của hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện đầu tiên để tiến đến hoạt động kinh doanh. Theo luật đầu tư được Quốc Hội khoá XI thông qua ngày 29/11/2005 thì “ Vốn Khóa đầu tư là tiền là tiền và các luận Nông tài sản hợp lâm pháp khác ngư để thực hiện các hoạt động đẩu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiêp” [14, tr.2 Đặc điểm của vốn đầu tư Thứ nhất, vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản, có nghĩa vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình như: nhà xưởng, đất đai, máy móc, thiết bị, chất xám, thông tin,… Một lượng tiền phát hành đã thoát lý giá trị thực của hàng hoá để đưa vào đầu tư, những khoản nợ không có khả năng thanh toán thì không được coi là vốn.
Thứ hai, vốn luôn vận động để sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được đưa vào hoạt động kinh doanh nhằm kiếm lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị- là tiền.
Đồng vốn phải quay về xuất phát với giá trị lớn hơn- đó là nguyên lý đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn. Do vậy khi đồng vốn bị ứ đọng, tài sản cố định không được sử dụng, tài nguyên, sức lao động không được dùng đến và nảy sinh SVTH: Mai Văn Hoài – Lớp: K46B KHĐT 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Trương Tấn Quân các khoản nợ khó đòi… là đồng vốn “chết”. Mặt khác, tiền có vận động nhưng bị phân tán quay về nơi xuất phát với giá trị thấp hơn thì đồng vốn cũng không được đảm bảo, chu kỳ vận động tiếp theo sẽ bị ảnh hưởng. Thứ ba, vốn không tách rời chủ sở hữu trong quá trình vận động, mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định.
Nếu đồng vốn không rõ ràng về chủ sở hữu sẽ có chi phí lớn và không hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường, chỉ có xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới được sử dụng hợp lý và có hiệu quả cao. Cần phải phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, đó là hai quyền khác nhau. Tuy nhiên, tuỳ theo hình thức đầu tư mà người có quyền sở hữu và quyền sử dụng là đồng nhất hoặc riêng rẽ.
Và dù trong trường hợp nào, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trong quyền sở hữu của mình. Đây là một nguyên tắc để huy động và quản lý vốn. Thứ tư, phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, điều này có nghĩa là vốn có giá trị về mặt thời gian. Trong điều kiện cơ chế thị trường, phải xem xét yếu tố thời gian vì ảnh hưởng sự biến động của giá cả, lạm phát nên giá trị của đồng tiền ở mỗi Khóa luận Nông lâm ngư thời kỳ là khác nhau.
Thứ năm, vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng. Doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của mình mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như phát hành cổ phiếu, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác. Nhờ vậy vốn của doanh nghiệp sẽ tăng lên và được gom thành món lớn. Thứ sáu, vốn được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.
Nhưng người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn sẽ đi vay, có nghĩa là mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu vốn. Khi đó quyền sở hữu vốn không di chuyển nhượng qua sự vay nợ. Người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất hay chính là giá của quyền sử dụng vốn, vốn khi bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. Việc mua này diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung- cầu vốn trên thị trường.
Thứ bảy, vốn không chỉ được biểu biện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình như nhãn hiệu, bản quyền, phát SVTH: Mai Văn Hoài – Lớp: K46B KHĐT 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Trương Tấn Quân minh sáng chế, bí quyết công nghệ, vị trí địa lý kinh doanh… Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ của khoa học công nghệ thì những tài sản vô hình ngày càng phong phú và đa dạng, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Do vậy, tất cả các tài sản này phải được lượng hoá để quy về giá trị. Việc xác định chính xá giá trị của các tài sản nói chung và các tài sản vô hình nói riêng là rất cần thiết khi góp vốn đầu tư liên doanh, khi đánh giá doanh nghiệp, khi xác định giá trị để phát hành cổ phiếu. Những đặc trưng trên cho thấy rằng vốn kinh doanh được sử dụng cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích tích luỹ chứ không phải là mục đích tiêu dùng như một số quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh được ứng ra trước khi hoạt động sản xuất kinh doanh được bắt đầu. Và sau một chu kỳ hoạt động vốn kinh doanh phải được thu về để sử dụng cho các chu kỳ hoạt động tiếp theo. Muốn có vốn thì phải có tiền, nhưng có tiền cũng chưa phải là có vốn, tiền được coi là vốn khi có những điều kiện sau: – Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, nói cách khác tiền phải đảm bảo bằng mộtKhóa luận lượng hàng hoá cóNông thực. lâm ngư – Tiền phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định thì mới đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh nào đó dù là nhỏ nhất.
Nếu tiền nằm rải rác khắp nơi, không được thu gom thành khoản thì cũng không làm được việc gì. – Khi đã đủ về lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lợi. Ngoài ra, riêng đối với loại vốn đặc biệt- sức lao động, yếu tố cơ bản quan trọng nhất trong các loại vốn,còn có những đặc điểm riêng: – Là nguồn duy nhất sáng tạo ra giá trị mới – Vừa là chủ thể quản lý vừa là đối tượng quản lý. – Khả năng làm việc tiềm ẩn trong mỗi người phụ thuộc vào tình cảm, môi trường làm việc xung quanh… và chỉ biểu hiện khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Như vậy, ta thấy rằng phạm trù vốn cần phải được nhận thức cho phù hợp và thấu đáo. Đó là cơ sở cho việc hoạch định chính sách và cơ chế, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các doanh nghiệp. SVTH: Mai Văn Hoài – Lớp: K46B KHĐT 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Trương Tấn Quân 1.3 Phân loại nguồn vốn đầu tư Nguồn vốn đầu tư cho phát triển của xã hội được hình thành trên cơ sở động viên nguồn lực trong nước và ngoài nước, thông qua các công cụ chính sách,cơ chế, luật pháp. Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng ( tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng), các nguồn vốn khác (vốn đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư).
Nguồn vốn ngoài nhà nước gồm có: đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn vay, viện trợ và các nguồn vốn khác. Nguồn vốn trong nước • Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: + NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự toán, đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. + Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lựơc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Khóa Nguồn vốn này thường luận được Nông sử dụng cho các lâm ngư dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế. • Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: + Vốn tính dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách (phương thức “xin – cho”) sang phương thức tín dụng với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp (phương thức “vay – trả”). + Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đợn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đàu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát SVTH: Mai Văn Hoài – Lớp: K46B KHĐT 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: T.S Trương Tấn Quân triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.