Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Vận dụng và mở rộng phương thức tài trợ dự án, góp phần đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phan Ngọc Minh và TS. Nguyễn Thị Loan. Luận án thuộc chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, mã số 62.01, hoàn thành vào năm 2013.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam 2011–2020 đề ra mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đòi hỏi việc huy động nguồn lực đầu tư toàn xã hội rất lớn, đặc biệt cho hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ. Theo số liệu tại hội nghị về mô hình hợp tác công – tư (PPP) do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức ngày 20/4/2012 tại Hà Nội, nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 ước tính khoảng 15 tỷ USD/năm. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước hạn hẹp và các phương thức cấp tín dụng truyền thống bộc lộ nhiều rào cản, tài trợ dự án (TTDA) xuất hiện như một phương thức cấp tín dụng phi truyền thống tối ưu. Tuy nhiên, tại Việt Nam, TTDA vẫn là vấn đề mới mẻ:
- Về mặt lý luận: Chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu toàn diện về việc vận dụng và mở rộng phương thức TTDA tại các tổ chức tín dụng (TCTD).
- Về mặt thực tiễn: Các TCTD tại Việt Nam chưa phân biệt rõ ràng giữa TTDA và các phương thức cấp tín dụng trung dài hạn truyền thống; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) chưa ban hành quy chế hoặc văn bản hướng dẫn cụ thể riêng cho TTDA.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm ba nội dung chính:
- Làm rõ cơ sở lý luận về TTDA, phân định sự khác biệt với các phương thức tài trợ truyền thống và chỉ ra vai trò của TTDA đối với tăng trưởng, phát triển kinh tế;
- Phân tích thực trạng và khả năng vận dụng, mở rộng phương thức TTDA tại các TCTD ở Việt Nam trong giai đoạn 2002–2012;
- Đề xuất hệ thống giải pháp đối với người vay, các TCTD và kiến nghị chính sách đối với cơ quan quản lý nhà nước nhằm vận dụng và mở rộng phương thức TTDA, góp phần phát triển kinh tế Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng và khả năng vận dụng, mở rộng phương thức TTDA tại các TCTD ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian bao gồm hệ thống các TCTD hoạt động tại Việt Nam (ngân hàng thương mại, TCTD phi ngân hàng, TCTD nước ngoài, TCTD hợp tác, TCTD của chính phủ và các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới - WB, Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB). Phạm vi thời gian tập trung khảo sát các dữ liệu và hoạt động cấp tín dụng, tài trợ dự án trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2012.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia theo các nhóm tiếp cận quốc tế và trong nước:
Trên bình diện quốc tế, các ấn phẩm và công trình nghiên cứu chuyên sâu về TTDA trong gần hai thập kỷ trước thời điểm nghiên cứu được phân loại thành các hướng chính:
- Hướng tiếp cận về thủ tục, quy chế: Pahwa (1991) phân tích hệ thống chính sách, quy định và quy trình thực hiện tài trợ dự án;
- Hướng nghiên cứu tình huống điển cứu: Lang (1998) và công trình của Esty (2004) với sách điển cứu "Modern Project Finance: A Casebook";
- Hướng tiếp cận tài chính: Finnerty (1996), Nevitt và Fabozzi (2000) phân tích các cấu trúc tài chính và kỹ thuật tài trợ;
- Hướng tiếp cận pháp lý: Hoffman (2001) với công trình "The Law and Business of International Project Finance";
- Hướng tiếp cận liên ngành tổng hợp: Khan và Parra (2003) nghiên cứu tổng thể các khía cạnh tài chính, kỹ thuật, kinh tế, môi trường và luật pháp trong tài trợ các dự án lớn;
- Hướng phân tích học thuật hàn lâm trên các tạp chí chuyên ngành: Tiêu biểu có Shah và Thakor (1997), Chemmanur và John (1996) nghiên cứu về lý thuyết phân bổ rủi ro và cấu trúc vốn trong tài trợ dự án.
Tại Việt Nam, phương thức TTDA từng được Quỹ phát triển quốc gia nghiên cứu và xuất bản năm 1972 thành 2 tập tài liệu "Phương thức nghiên cứu và tài trợ DAĐT". Sau năm 1975, phương thức này gần như không được nhắc đến cho đến năm 1995 khi Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đưa vào học phần tài chính phát triển. Tiếp đó, một số bài viết tạp chí đề cập bước đầu như:
- Nguyễn Thu Hiền (2001) trên Tạp chí Phát triển Kinh tế số 125 với bài viết "Phương thức TTDA, Lối ra cho tư nhân hoá CSHT và tiện ích công cộng", phân tích cơ chế miễn truy đòi và xem xét dòng tiền dự án thay vì năng lực tài chính của chủ đầu tư;
- Phạm Anh Dũng (2004) trên Tạp chí Công nghệ Ngân hàng số 1 với bài viết "TTDA sự cần thiết đối với doanh nghiệp Việt Nam", làm rõ sự khác biệt giữa TTDA và cho vay theo dự án đầu tư thông thường;
- Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc (2005) bảo vệ luận văn thạc sĩ tại Đại học Kinh tế TP.HCM với đề tài "Vận dụng phương thức TTDA mở rộng tín dụng trung dài hạn trong điều kiện Việt Nam hiện nay".
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Các công trình trong nước trước đó chỉ dừng lại ở mức giới thiệu khái niệm, phân biệt cơ bản giữa TTDA và cho vay thông thường, chưa có nghiên cứu hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận gắn với vai trò phát triển kinh tế, chưa đánh giá thực trạng năng lực thẩm định của các nhóm TCTD tại Việt Nam giai đoạn 2002–2012, và chưa đề xuất một khung giải pháp đồng bộ 3 bên gắn liền với bối cảnh thí điểm mô hình hợp tác công – tư (PPP). Luận án của tác giả giải quyết toàn bộ khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết về dự án đầu tư và các phương thức tài trợ vốn. Theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP và định nghĩa của WB, dự án đầu tư được tiếp cận theo quan điểm động và tĩnh, phân loại theo tính chất (độc lập, loại trừ, bổ sung), theo hình thức đầu tư (đầu tư mới, mở rộng, chiều sâu) và theo hợp đồng dự án có yếu tố chuyển giao (BOT, BTO, BT). Quá trình thẩm định dự án được phân tích qua 5 phương diện logic: thị trường, kỹ thuật, nhân lực và quản lý, tài chính, và kinh tế – xã hội.
Đối với các phương thức cấp tín dụng truyền thống (cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho thuê tài chính), luận án phân tích chi tiết cơ chế xác định nguồn trả nợ theo phương pháp Nguồn khả dụng để trả nợ kỳ hạn tăng thêm (Funds Available To Service Additional Term Loan - FATSATL):
$$\text{FATSATL} = \text{Thu nhập sau thuế} + \text{Khấu hao} - \text{Nợ dài hạn đến hạn} - \text{Thay đổi VLĐ ròng} - \text{Cổ tức chi trả} - \text{Các quỹ trích lập} - \text{Mua sắm TSCĐ giá trị thấp}$$
Về mặt lý luận tài trợ dự án, luận án xác định bản chất TTDA là cấu trúc tài trợ tín dụng mà bên cho vay nhìn vào dòng tiền hoạt động và tài sản của chính dự án làm nguồn thu nợ chính và tài sản bảo đảm, mang tính chất miễn truy đòi (non-recourse) hoặc truy đòi giới hạn (limited recourse) đối với chủ sở hữu/người khởi xướng. Các cấu trúc tài trợ bao gồm: cấu trúc cho vay, cấu trúc thanh toán sản phẩm, cấu trúc BOT, cấu trúc cho thuê tài chính, cấu trúc đồng tài trợ với WB và IFC. Về mặt chủ thể, TTDA gắn liền với việc thành lập Doanh nghiệp dự án (DNDA/SPV) hoặc Công ty vay tín thác (Trustee Borrowing Vehicle - TBV).
| Tiêu chí |
Cho vay theo DAĐT truyền thống |
Tài trợ dự án (TTDA) |
| Nguồn trả nợ |
Dòng tiền tổng thể của toàn bộ doanh nghiệp đi vay |
Dòng tiền phát sinh từ chính bản thân dự án |
| Quyền truy đòi |
Truy đòi toàn bộ tài sản của người vay |
Miễn truy đòi hoặc truy đòi có giới hạn với người khởi xướng |
| Tài sản bảo đảm |
Tài sản sẵn có thuộc sở hữu của người vay hoặc bên bảo lãnh |
Tài sản, quyền tài sản và dòng tiền hình thành từ dự án |
| Hạch toán kế toán |
Ghi nhận nợ trực tiếp trên bảng cân đối kế toán doanh nghiệp |
Thường hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán của người khởi xướng |
| Thẩm định tín dụng |
Đánh giá năng lực tài chính và lịch sử tín dụng của người vay |
Tập trung chuyên sâu vào tính khả thi kỹ thuật và dòng tiền dự án |
Về phương pháp nghiên cứu, luận án thực hiện nghiên cứu định tính, sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp mô tả: Hệ thống hóa chi tiết quy trình, cơ chế vận hành của các phương thức cấp tín dụng truyền thống và phương thức TTDA;
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các ưu điểm, nhược điểm của từng phương thức tài trợ, phân tích thực trạng hoạt động tài trợ dự án tại Việt Nam giai đoạn 2002–2012;
- Phương pháp thống kê: Thống kê số lượng, quy mô các khoản tài trợ dự án tiêu biểu, phân loại theo ngành nghề, phương thức và cơ cấu tổ chức;
- Phương pháp tổng hợp: Đánh giá tổng quan thực trạng hoạt động cấp tín dụng dự án của các nhóm TCTD, từ đó đúc kết hạn chế, nguyên nhân và xây dựng hệ thống giải pháp.
Do NHNNVN và các TCTD tại Việt Nam chưa theo dõi số liệu thống kê riêng biệt cho phương thức TTDA, nguồn dữ liệu định lượng chính thức không đủ điều kiện để xây dựng các mô hình kinh tế lượng hồi quy. Tác giả tự tiến hành tổng hợp số liệu thứ cấp từ báo cáo thường niên của các TCTD, cổng thông tin NHNNVN, các phụ lục dự án tiêu biểu và thông tin truyền thông chính thống.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Sự cần thiết của việc vận dụng và mở rộng phương thức tài trợ dự án đối với tiến trình phát triển kinh tế của các quốc gia
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về cấp tín dụng dự án và phân định vị trí của TTDA đối với tăng trưởng kinh tế:
- Cơ sở lý luận về DAĐT và các phương thức cấp tín dụng truyền thống: Phân tích ba phương thức gồm cho vay theo DAĐT, cho vay hợp vốn và cho thuê tài chính. Luận án làm rõ hai trường hợp ân hạn nợ vay thi công:
- Ân hạn nợ gốc: Bên vay phải thanh toán lãi phát sinh trong thời gian xây dựng;
- Ân hạn cả gốc và lãi: Tiền lãi xây dựng được nhập vào vốn gốc (lãi nhập vốn), làm gia tăng tổng dư nợ và chi phí lãi vay của dự án khi đi vào vận hành.
| Chỉ tiêu (Đơn vị: triệu đồng) |
Năm 0 |
Năm 1 |
Năm 2 |
Tổng cộng |
| Trường hợp ân hạn gốc (Bảng 1.1) |
|
|
|
|
| Vốn giải ngân trong kỳ |
10.000 |
20.000 |
20.000 |
50.000 |
| Tiền lãi vay phát sinh (lãi suất 12%/năm) |
- |
1.200 |
3.600 |
4.800 |
| Dư nợ gốc cuối năm 2 |
- |
- |
- |
50.000 |
| Trường hợp ân hạn cả gốc và lãi (Bảng 1.2) |
|
|
|
|
| Vốn giải ngân trong kỳ |
10.000 |
20.000 |
20.000 |
50.000 |
| Tiền lãi phát sinh nhập gốc |
- |
1.200 |
3.744 |
4.944 |
| Dư nợ cuối năm 2 (gốc + lãi nhập vốn) |
- |
- |
- |
54.944 |
- Bản chất, đặc điểm và cấu trúc của phương thức TTDA: Luận án phân tích chi tiết các động cơ thúc đẩy TTDA gồm chia sẻ rủi ro giữa các đối tác thông qua mạng lưới hợp đồng phức tạp (EPC, O&M, PPA...), quản lý hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán, vượt qua các giới hạn hạn mức vay nợ theo tỷ lệ an toàn tài chính của doanh nghiệp mẹ, và tối ưu hóa lợi ích về thuế. Chương này mô tả các cấu trúc thực hiện TTDA: cấu trúc cho vay, cấu trúc thanh toán sản phẩm, cấu trúc BOT, cấu trúc cho thuê và mô hình đồng tài trợ cùng WB/IFC.
- Tác động của TTDA đến phát triển kinh tế: Luận án chứng minh TTDA tác động đa chiều đến sự phát triển thông qua 5 khía cạnh cốt lõi:
- Khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên hiệu quả, tạo nguồn thu ngân sách;
- Huy động tối đa nguồn tư bản nhàn rỗi trong và ngoài nước;
- Thúc đẩy tiếp nhận và chuyển giao công nghệ mới;
- Cung ứng dịch vụ công và cơ sở hạ tầng thiết yếu, nâng cao phúc lợi xã hội;
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và tạo áp lực cải cách thể chế pháp lý.
Chương 2: Phân tích tình hình vận dụng và mở rộng phương thức tài trợ dự án tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Chương 2 khảo sát thực trạng thực hiện TTDA tại Việt Nam trong giai đoạn 2002–2012:
- Đánh giá năng lực của các nhóm TCTD tại Việt Nam:
- Các ngân hàng thương mại: Khối NHTM nhà nước có quy mô vốn lớn nhưng năng lực thẩm định kỹ thuật dự án và quản lý dòng tiền độc lập còn yếu; khối NHTM cổ phần có quy mô vốn nhỏ, nguồn vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nên gặp rủi ro kỳ hạn nghiêm trọng;
- Các TCTD phi ngân hàng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính): Hoạt động phụ thuộc vào các tập đoàn mẹ (như PVFC, EVNFinance), nguồn vốn hạn hẹp;
- Các TCTD nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Có ưu thế vượt trội về kinh nghiệm, quy trình thẩm định chuẩn quốc tế và khả năng kết nối mạng lưới tài chính đa quốc gia, đóng vai trò nòng cốt trong các khoản tài trợ lớn;
- Các TCTD chính phủ (VDB) và TCTD hợp tác: Tham gia cấp tín dụng theo chỉ định hoặc phạm vi hẹp, chưa vận dụng cấu trúc TTDA hiện đại.
- Thuận lợi và rào cản thực tế:
- Thuận lợi: Luật Doanh nghiệp tạo quyền tự do kinh doanh; Luật Đầu tư cho phép thành lập tổ chức kinh tế gắn liền với dự án; quy định cho phép thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay; chủ trương thí điểm mô hình PPP của Chính phủ;
- Khó khăn: Vai trò thẩm định dự án độc lập bị xem nhẹ; chuyên viên ngân hàng phụ thuộc vào tài sản bảo đảm truyền thống thay vì thẩm định dòng tiền; thiếu vắng các nhà tư vấn tài chính, tư vấn kỹ thuật và quản lý dự án chuyên nghiệp.
- Phân tích thực trạng vận dụng và mở rộng qua các dự án điển hình (2002–2012):
- Ngành nghề tài trợ: Tập trung chủ yếu vào lĩnh vực năng lượng, nhiệt điện, thủy điện, khai thác dầu khí và hạ tầng giao thông đường bộ;
- Dự án Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2.2: Do Công ty TNHH Năng lượng Mê Kông (MECO) làm chủ đầu tư, theo hình thức BOT với sự tham gia thu xếp vốn của WB, ADB, Proparco và JBIC. Đây là dự án TTDA điển cứu với cấu trúc tài trợ truy đòi giới hạn, hợp đồng mua bán điện (PPA) chặt chẽ và cơ chế bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán của Chính phủ;
- Dự án BOT Cầu Phú Mỹ (TP.HCM): Dự án hạ tầng giao thông nội địa áp dụng mô hình BOT, huy động vốn vay hợp vốn từ các NHTM trong nước và ngân hàng nước ngoài, song gặp nhiều thách thức liên quan đến lưu lượng phương tiện thực tế, lộ trình điều chỉnh giá vé và áp lực cân đối dòng tiền trả nợ.
- Đánh giá kết quả và nguyên nhân hạn chế:
- Hạn chế: Số lượng dự án áp dụng TTDA thuần túy rất ít; tỷ trọng vốn tài trợ dự án còn rất thấp so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội và GDP; cấu trúc sở hữu và cấu trúc tài trợ đơn giản, hầu hết vẫn đòi hỏi bảo lãnh ngầm hoặc ràng buộc trách nhiệm của chủ đầu tư mẹ;
- Nguyên nhân: TCTD chưa hiểu đúng bản chất TTDA; NHNNVN chưa có văn bản hướng dẫn nghiệp vụ riêng biệt; tiềm lực vốn tự có của các TCTD trong nước yếu; thiếu bộ phận chuyên trách TTDA độc lập; nợ xấu gia tăng dẫn đến tâm lý e ngại rủi ro; thiếu hành lang pháp lý cho mô hình Công ty vay tín thác (TBV).
Chương 3: Giải pháp vận dụng và mở rộng phương thức tài trợ dự án, góp phần đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam
Dựa trên định hướng phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020 và các điều kiện tiền đề, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị đồng bộ:
- Nhóm giải pháp đối với người vay (nhà khởi xướng dự án):
- Nâng cao chất lượng lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, phản ánh trung thực thông số kỹ thuật, thị trường và tài chính;
- Thuê các công ty tư vấn quốc tế và nhà quản lý vận hành dự án chuyên nghiệp để xây dựng cấu trúc hợp đồng đạt chuẩn quốc tế;
- Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về đánh giá tác động môi trường (BCĐGTĐMT), coi đây là điều kiện tiên quyết để tiếp cận các định chế tài chính quốc tế.
- Nhóm giải pháp đối với các tổ chức tín dụng:
- Giải pháp nguồn vốn: Đẩy mạnh huy động nguồn vốn trung và dài hạn qua phát hành trái phiếu công trình, hợp tác tìm kiếm nguồn tài trợ từ các tổ chức tài chính đa phương;
- Giải pháp tổ chức và nhân sự: Thành lập bộ phận chuyên trách về TTDA (Project Finance Department) tại hội sở chính; đào tạo chuyên sâu đội ngũ chuyên viên về mô hình hóa tài chính, kỹ thuật thẩm định dòng tiền chiết khấu, phân tích rủi ro độ nhạy và pháp lý hợp đồng dự án;
- Kỹ thuật nghiệp vụ: Chuyển dịch căn bản từ thẩm định dựa trên tài sản thế chấp sang thẩm định dòng tiền độc lập; chuẩn hóa quy trình phân tích chỉ số bao phủ nợ (DSCR), tỷ suất sinh lời nội tại (IRR);
- Tiếp thị và truyền thông: Quảng bá sản phẩm TTDA đúng chuẩn quốc tế trên các kênh thông tin chính thức, phân biệt rõ với sản phẩm cho vay trung dài hạn thông thường.
- Nhóm kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước:
- Đối với Quốc hội: Sửa đổi Luật Đấu thầu nhằm bảo đảm tính minh bạch trong lựa chọn nhà đầu tư dự án hạ tầng; sớm ban hành Luật Tư vấn và xây dựng Luật điều chỉnh riêng biệt về mô hình đối tác công – tư (Luật PPP);
- Đối với Chính phủ: Ban hành nghị định quy định rõ ràng về khung pháp lý cho việc thành lập và vận hành các Công ty vay tín thác (TBV/SPV); có chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới tư vấn, quản lý dự án chuyên nghiệp;
- Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Ban hành Quy chế riêng về hoạt động tài trợ dự án của các TCTD (tách biệt hoàn toàn khỏi Quy chế cho vay thông thường và Quy chế cấp tín dụng hợp vốn); hướng dẫn chi tiết cách thức xác định hệ số rủi ro và trích lập dự phòng đối với các khoản TTDA truy đòi giới hạn.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và giá trị thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa một cách toàn diện lý thuyết về TTDA; chỉ rõ các đặc trưng phân biệt phương thức TTDA với ba phương thức cấp tín dụng truyền thống (cho vay theo DAĐT, cho vay hợp vốn, cho thuê tài chính); luận giải chi tiết cơ chế tác động của TTDA đối với các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế (tư bản, công nghệ, tài nguyên, lao động, thể chế).
- Về mặt thực tiễn:
- Chỉ ra thực trạng các TCTD tại Việt Nam chưa phân biệt phương thức TTDA trên các trang tin điện tử và trong thực tế giới thiệu sản phẩm tín dụng;
- Phát hiện khoảng trống pháp lý khi các văn bản của NHNNVN (như Quy chế cho vay, Quy chế cấp tín dụng hợp vốn) chưa phân định rõ ràng giữa TTDA và cấp tín dụng thông thường;
- Phân tích thực trạng và đánh giá năng lực của từng phân khúc trong hệ thống TCTD Việt Nam đối với khả năng tham gia tài trợ dự án;
- Đánh giá cụ thể các điển cứu TTDA tại Việt Nam (Dự án Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2.2 và BOT Cầu Phú Mỹ) để rút ra các bài học về cấu trúc hợp đồng và quản trị dòng tiền;
- Đề xuất hệ thống giải pháp có tính đồng bộ, gắn liền điều kiện cụ thể của Việt Nam, đặc biệt là các kiến nghị sửa đổi bổ sung luật chuyên ngành và ban hành Quy chế TTDA của NHNNVN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế nghiên cứu, luận án nêu rõ:
- Cơ quan quản lý nhà nước là NHNNVN chưa xây dựng và công bố số liệu thống kê chính thức về các khoản TTDA;
- Các TCTD tại Việt Nam chưa theo dõi hạch toán riêng biệt giữa nghiệp vụ TTDA và cho vay DAĐT truyền thống;
- Thiếu cơ sở dữ liệu định lượng đầy đủ dẫn đến việc luận án không thể áp dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường định lượng tương quan giữa quy mô TTDA và tăng trưởng GDP.
Hướng nghiên cứu tiếp theo: Khi cơ quan quản lý hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống báo cáo thống kê chuyên biệt cho TTDA, các nghiên cứu tiếp nối có thể triển khai phương pháp định lượng để đo lường tác động biên của TTDA đối với tăng trưởng kinh tế, đồng thời nghiên cứu sâu hơn về mô hình tối ưu hóa cơ cấu vốn vay – vốn chủ sở hữu trong các dự án hạ tầng giao thông và năng lượng tái tạo.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp giá trị tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng trong lĩnh vực kinh tế và tài chính:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết chi tiết, phương pháp xác định dòng tiền dự án theo FATSATL, phân tích chế độ ân hạn và các mô hình cấu trúc TTDA quốc tế;
- Đối với cán bộ lãnh đạo và chuyên viên thẩm định tín dụng tại các TCTD: Cung cấp phương pháp luận để xây dựng quy trình thẩm định dự án độc lập, kỹ thuật phân tích dòng tiền và các biện pháp giảm thiểu rủi ro khi thu xếp các khoản tài trợ quy mô lớn;
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, NHNNVN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện thể chế mô hình hợp tác công – tư (PPP), sửa đổi luật liên quan và ban hành quy chế nghiệp vụ cho hệ thống ngân hàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Điểm khác biệt mấu chốt giữa phương thức tài trợ dự án và phương thức cho vay theo dự án đầu tư truyền thống là gì?
Sự khác biệt căn bản nằm ở nguồn trả nợ và mức độ truy đòi. Trong cho vay truyền thống, nguồn trả nợ dựa vào toàn bộ năng lực tài chính và dòng tiền chung của doanh nghiệp đi vay, bên cho vay có quyền truy đòi toàn bộ tài sản của người vay. Ngược lại, trong phương thức TTDA, nguồn trả nợ duy nhất hoặc chủ yếu được lấy từ chính dòng tiền sinh ra từ bản thân dự án; bên cho vay chỉ có quyền miễn truy đòi hoặc truy đòi giới hạn đối với tài sản của người khởi xướng (chủ sở hữu).
2. Công thức FATSATL được sử dụng nhằm mục đích gì và bao gồm các thành tố nào?
Công thức FATSATL (Nguồn khả dụng để trả nợ kỳ hạn tăng thêm) được sử dụng để xác định nguồn tiền thực tế mà một doanh nghiệp đang hoạt động có thể trích ra để trả nợ cho một khoản vay dự án mở rộng, khi dòng tiền của dự án mới chưa thể tách bạch hoàn toàn khỏi sổ sách công ty. Công thức được xác định bằng: Thu nhập sau thuế (+) Khấu hao (-) Nợ dài hạn đến hạn (-) Thay đổi VLĐ ròng (-) Cổ tức chi trả (-) Các quỹ trích lập (-) Mua sắm TSCĐ giá trị thấp.
3. Vì sao luận án không áp dụng các mô hình kinh tế lượng định lượng?
Luận án không áp dụng mô hình định lượng do rào cản khách quan về dữ liệu: NHNNVN chưa có báo cáo thống kê chính thức về nghiệp vụ TTDA, đồng thời các TCTD trong nước chưa hạch toán tách biệt TTDA với cho vay theo dự án thông thường. Tác giả phải sử dụng phương pháp định tính, mô tả, phân tích và thống kê mô tả từ nguồn dữ liệu thứ cấp do chính tác giả thu thập.
4. Hai điển cứu thực tế nào tại Việt Nam được luận án phân tích sâu về phương thức TTDA?
Luận án phân tích chi tiết hai dự án: Dự án Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2.2 (hình thức BOT, chủ đầu tư là MECO, có sự tham gia của các tổ chức quốc tế như WB, ADB, JBIC, cấu trúc tài trợ truy đòi giới hạn) và Dự án BOT Cầu Phú Mỹ tại TP.HCM (dự án hạ tầng giao thông đô thị huy động nguồn vốn từ các ngân hàng trong nước và nước ngoài, phân tích về cơ chế thu phí và rủi ro cân đối dòng tiền trả nợ).
5. Luận án đưa ra kiến nghị cấp bách nào đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam?
Luận án kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần sớm ban hành một Quy chế hoặc thông tư hướng dẫn riêng về hoạt động tài trợ dự án của các TCTD (tách bạch khỏi Quy chế cho vay thông thường và Quy chế cấp tín dụng hợp vốn), đồng thời quy định rõ tiêu chuẩn phân loại nợ, trích lập dự phòng và kiểm soát rủi ro phù hợp với thông lệ tài trợ dự án quốc tế.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phương thức tài trợ dự án và phân định sự khác biệt bản chất so với các hình thức cấp tín dụng truyền thống. Qua khảo sát thực tiễn giai đoạn 2002–2012, công trình chỉ rõ các rào cản về năng lực thẩm định của hệ thống TCTD và sự thiếu hụt hành lang pháp lý chuyên biệt tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và kiến nghị hoàn thiện thể chế nhằm vận dụng, mở rộng phương thức tài trợ dự án, góp phần huy động hiệu quả nguồn vốn cho phát triển kinh tế đất nước.