Tổng quan nghiên cứu

Giảm nghèo bền vững là một trong những mục tiêu chiến lược xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc Bộ với diện tích tự nhiên 138.910 ha và quy mô dân số 901.686 người. Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, địa phương này đối mặt với nhiều biến động kinh tế khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể để nhường chỗ cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và hạ tầng đô thị. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm ấn tượng từ 12,83% năm 2006 xuống còn 6,86% vào cuối năm 2009, công tác giảm nghèo vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là nguy cơ tái nghèo cao tại các địa bàn khó khăn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là phân tích thực trạng nghèo đói và hiệu quả thực thi các chính sách an sinh xã hội dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa lý luận về giảm nghèo trong thời kỳ công nghiệp hóa; khảo sát thực trạng giảm nghèo tại 23 xã trọng điểm có tỷ lệ hộ nghèo cao giai đoạn 2006 - 2009; và xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2015.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học thực chứng nhằm hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách địa phương đạt được mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống dưới 6,15% vào năm 2010 và dưới 4% vào năm 2015, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển con người và cách tiếp cận nghèo đa chiều hiện đại. Đề tài kế thừa định nghĩa của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, 1993), xác định nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản đã được xã hội thừa nhận tùy thuộc vào trình độ phát triển và tập quán địa phương. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB) và lý thuyết năng lực của Amartya Sen, coi nghèo đói không chỉ là sự thiếu hụt về thu nhập mà còn là sự hạn chế về cơ hội tiếp cận y tế, giáo dục, nguồn vốn, thông tin và quyền tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.

Bên cạnh đó, khung phân tích của Kinh tế chính trị Mác - Lênin về phân phối thu nhập và công bằng xã hội được áp dụng để làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: chuẩn nghèo quốc gia (mức sàn 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở thành thị giai đoạn 2005 - 2010), tái nghèo, xã hội hóa công tác giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp lôgic kết hợp lịch sử, cùng các kỹ thuật phân tích - tổng hợp dữ liệu thống kê. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội và Cục Thống kê tỉnh trong giai đoạn 2005 - 2010.

Đối với dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thực hiện khảo sát chọn mẫu tại 23 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao thuộc các huyện miền núi, ven biển và vùng quy hoạch công nghiệp của tỉnh Ninh Bình. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên cụm được áp dụng để đại diện cho các nhóm đối tượng nghèo khác nhau: hộ thiếu đất sản xuất, hộ thiếu vốn, hộ có người ốm đau tàn tật và hộ neo đơn. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và so sánh đối chiếu được lựa chọn nhằm bóc tách chính xác các nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ đó làm cơ sở đánh giá tác động của các chính sách an sinh đã ban hành trên địa bàn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ giảm nghèo tại tỉnh Ninh Bình đạt kết quả vượt bậc nhưng có sự chênh lệch lớn giữa các vùng. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm liên tục từ 12,83% năm 2006 xuống 10,07% năm 2007, 8,36% năm 2008 và chỉ còn 6,86% vào cuối năm 2009 (giảm trung bình gần 2% mỗi năm). Riêng tại 23 xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh từ 21,51% năm 2006 xuống còn 10,67% năm 2009, tương ứng mức giảm 10,84% sau 3 năm triển khai quyết liệt các chương trình hành động.

Thứ hai, chính sách đầu tư hạ tầng và tín dụng ưu đãi tạo ra động lực kinh tế nền tảng. Tỉnh đã đầu tư xây dựng 153 công trình hạ tầng thiết yếu với tổng số vốn trên 2.600 tỷ đồng tại 23 xã nghèo trọng điểm giai đoạn 2007 - 2009. Đến tháng 12 năm 2009, tổng dư nợ cho vay hộ nghèo qua Ngân hàng Chính sách Xã hội đạt 327 tỷ đồng (trong đó 23 xã nghèo chiếm 181 tỷ đồng), cùng hơn 7 tỷ đồng từ Quỹ Hỗ trợ Nông dân của Hội Nông dân tỉnh.

Thứ ba, hệ thống chính sách trợ giúp an sinh xã hội trực tiếp mang lại hiệu quả rõ rệt. Đề án hỗ trợ nhà ở đã giúp 671 hộ nghèo tại 23 xã xóa bỏ nhà tạm, nhà dột nát với tổng kinh phí trên 20 tỷ đồng. Tỉnh đã cấp 248.839 thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, trợ giúp thường xuyên cho 6.815 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 10,8 tỷ đồng, đồng thời miễn giảm học phí cho 19.686 lượt học sinh nghèo với kinh phí 1,4 tỷ đồng và tổ chức 654 lớp tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ giảm nghèo cơ sở.

Thứ tư, khảo sát nguyên nhân nghèo chỉ ra những rào cản mang tính cơ cấu: 79% hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh, 29% thiếu đất canh tác do quá trình thu hồi đất công nghiệp hóa, 35% thiếu thông tin thị trường và trình độ lao động hạn chế khiến việc chuyển đổi nghề nghiệp gặp nhiều bế tắc.

Thảo luận kết quả

Thành công trong công tác giảm nghèo của Ninh Bình bắt nguồn từ sự lãnh đạo tập trung của cấp ủy Đảng qua Nghị quyết 10-NQ/TU và việc cụ thể hóa thành Đề án 15/ĐA-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh. Trên các bảng tổng hợp số liệu thực tế, sự phân hóa giảm nghèo được phản ánh rõ rệt: các xã vùng đồng bằng tiếp cận dịch vụ tốt hơn có tốc độ thoát nghèo nhanh hơn vùng sâu, vùng xa.

So sánh với kinh nghiệm giảm nghèo của Thành phố Hồ Chí Minh hay Hải Dương, Ninh Bình đã làm tốt khâu huy động vốn ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi. Tuy nhiên, mặt hạn chế là việc liên kết đào tạo nghề gắn với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp tại cụm công nghiệp còn yếu. Đa số lao động sau học nghề ngắn hạn vẫn chưa tìm được việc làm phi nông nghiệp ổn định, dẫn đến nguy cơ tái nghèo cao khi gặp biến cố thiên tai hoặc đau ốm kéo dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện chính sách giảm nghèo tại tỉnh Ninh Bình đến năm 2015:

  • Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và khôi phục các làng nghề truyền thống: Tập trung phát triển các nghề chế biến cói, thêu ren và chế tác đá mỹ nghệ theo Nghị quyết 04-NQ/TU nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho trên 10.000 lao động nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng Sở Công Thương chủ trì thực hiện trong giai đoạn 2011 - 2015.
  • Mở rộng hạn mức và đơn giản hóa thủ tục tiếp cận tín dụng ưu đãi: Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh tăng quy mô dư nợ cho vay hộ nghèo thêm 15% đến 20% mỗi năm, kết hợp nhân rộng mô hình tín dụng sinh kế luân chuyển như ngân hàng bò mẹ trả bò con để tạo tư liệu sản xuất bền vững cho các hộ khó khăn.
  • Nâng cấp đồng bộ hệ thống an sinh xã hội về y tế, giáo dục và nhà ở: Sở Y tế và Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp bảo đảm tỷ lệ cấp phát thẻ bảo hiểm y tế đạt 100% cho hộ nghèo và cận nghèo, miễn giảm toàn bộ học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường học cho con em hộ nghèo đến năm 2015.
  • Đổi mới thể chế quản lý và nâng cao năng lực cán bộ cơ sở: Ban Chỉ đạo Giảm nghèo tỉnh định kỳ tổ chức từ 150 đến 200 lớp tập huấn hàng năm cho cán bộ thôn, xã; đồng thời đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, bảo đảm tính minh bạch trong việc bình xét hộ nghèo và tạo điều kiện để người dân trực tiếp giám sát các công trình hạ tầng công cộng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Chính sách Xã hội: Sử dụng luận văn làm tài liệu thực tiễn để tham mưu chính sách, xây dựng các đề án giảm nghèo và phân bổ nguồn lực công hiệu quả.
  • Cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã: Tham khảo các bài học kinh nghiệm trong công tác điều hành, quy trình rà soát hộ nghèo và triển khai các dự án đầu tư hạ tầng 23 xã đặc biệt khó khăn.
  • Giảng viên, nghiên cứu viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Xã hội học và Kinh tế phát triển: Sử dụng dữ liệu nghiên cứu làm tài liệu tham khảo cho các chuyên đề về an sinh xã hội, nông nghiệp - nông dân - nông thôn và tác động của công nghiệp hóa.
  • Học viên cao học và sinh viên đại học khối ngành kinh tế - xã hội: Khảo sát phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa lý luận Mác - Lênin với các công cụ phân tích thống kê kinh tế tại một địa phương cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn tiếp cận khái niệm nghèo theo tiêu chuẩn nào?
Luận văn áp dụng định nghĩa của ESCAP (1993) và tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, kết hợp chuẩn nghèo quốc gia Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010 (thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và dưới 260.000 đồng/người/tháng ở thành thị), nhìn nhận nghèo là sự thiếu hụt đa chiều về thu nhập, giáo dục, y tế và tư liệu sản xuất.

Tại sao luận văn tập trung nghiên cứu chuyên sâu tại 23 xã nghèo của Ninh Bình?
Đây là 23 địa bàn trọng điểm có tỷ lệ hộ nghèo ban đầu trên 20%, tập trung ở vùng núi sâu, ven biển và vùng chuyển đổi đất nông nghiệp. Việc phân tích 23 xã này giúp phản ánh chân thực những rào cản khắc nghiệt nhất trong công tác an sinh xã hội của tỉnh.

Quá trình công nghiệp hóa ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng nghèo tại địa phương?
Công nghiệp hóa thúc đẩy tăng trưởng nhưng cũng dẫn đến việc thu hồi diện tích lớn đất nông nghiệp. Khoảng 29% hộ nghèo rơi vào cảnh thiếu đất sản xuất, trong khi lao động lớn tuổi khó chuyển đổi nghề sang khu công nghiệp, làm gia tăng nguy cơ tái nghèo.

Nguồn vốn tín dụng ưu đãi đã phát huy hiệu quả cụ thể ra sao?
Đến cuối năm 2009, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh đã giải ngân 327 tỷ đồng dư nợ hộ nghèo (trong đó 23 xã nghèo đạt 181 tỷ đồng), giúp hàng chục nghìn hộ tiếp cận cây giống, con giống, máy móc sản xuất và phục hồi sinh kế.

Mục tiêu giảm nghèo dài hạn của tỉnh Ninh Bình đến năm 2015 là gì?
Tỉnh đặt mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2010 hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 6,15%, năm 2012 không còn xã nào có tỷ lệ nghèo trên 15%, và đến cuối năm 2015 đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống dưới 4% theo chuẩn cũ (dưới 6% theo chuẩn mới).

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giảm nghèo đa chiều và công bằng xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  • Công tác giảm nghèo tại tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2006 - 2009 đạt nhiều thành tựu nổi bật, đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 12,83% xuống 6,86% và tại 23 xã trọng điểm giảm từ 21,51% xuống 10,67%.
  • Địa phương đã huy động thành công trên 2.600 tỷ đồng đầu tư 153 công trình hạ tầng và duy trì dư nợ tín dụng chính sách trên 327 tỷ đồng phục vụ người nghèo.
  • Đề tài chỉ rõ những rào cản nội tại về thiếu đất sản xuất, thiếu vốn (79%) và hạn chế kỹ năng nghề nghiệp, từ đó đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về kinh tế, an sinh xã hội và thể chế quản lý.
  • Nghiên cứu cung cấp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cao; bạn đọc quan tâm có thể tiếp tục khai thác các mô hình sinh kế chuyển đổi để áp dụng cho giai đoạn phát triển tiếp theo của địa phương.