Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử mang tên "Chuyển biến về kinh tế - xã hội huyện Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hoá) từ năm 1986 đến năm 2005" do sinh viên Đỗ Thị Nhường thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Văn Đạt tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 4 năm 2008).
Về bối cảnh thực tiễn, Thọ Xuân là huyện đồng bằng nằm ở phía tây bắc thành phố Thanh Hóa, có vị trí chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và miền núi, giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và tiềm năng phát triển. Sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975), Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thọ Xuân đã nỗ lực khôi phục kinh tế và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn 1975–1985. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp và khủng hoảng kinh tế - xã hội chung của cả nước, nền kinh tế địa phương thời kỳ này bộc lộ nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn thiếu thốn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, tạo cơ sở cho Thọ Xuân vận dụng vào điều kiện cụ thể để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp hàng hóa và nâng cao đời sống nhân dân giai đoạn 1986–2005.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện Thọ Xuân trong gần 20 năm đổi mới (1986–2005).
- Từ thực tiễn sinh động của quá trình phát triển cũng như những thành tựu kinh tế - xã hội đạt được, rút ra các bài học kinh nghiệm của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cho huyện Thọ Xuân trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình chuyển biến trên các lĩnh vực kinh tế và xã hội của huyện Thọ Xuân.
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2005 (đồng thời có khảo sát giai đoạn 1975–1985 và các tiền đề lịch sử - tự nhiên trước đó để làm cơ sở đối sánh).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Khung lý luận và cơ sở đường lối: Luận văn dựa trên các quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế - xã hội; các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX. Các văn kiện pháp lý và chỉ đạo then chốt gồm: Chỉ thị 100-CT/TW (1981), Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (1988) về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; cùng các Nghị quyết chuyên đề của Đảng bộ huyện Thọ Xuân (Nghị quyết 04 năm 1989 về đổi mới tổ chức quản lý, Nghị quyết 01 năm 1996 về chăn nuôi theo hướng công nghiệp, Nghị quyết 05 và 06 năm 2003 về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi).
- Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Đồng thời áp dụng các phương pháp chuyên ngành lịch sử như: thu thập, xử lý và phê phán sử liệu, so sánh, phân tích - tổng hợp số liệu, phương pháp thống kê và khảo sát điền dã tại các di tích, đơn vị kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.
- Nguồn tư liệu: Luận văn khai thác các nguồn văn bản gốc gồm Báo cáo chính trị tại các kỳ Đại hội Đảng bộ huyện Thọ Xuân từ năm 1975 đến 2005; báo cáo tổng kết kế hoạch 5 năm và hàng năm của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Thọ Xuân; số liệu lưu trữ tại Niên giám thống kê huyện Thọ Xuân và Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa; các công trình nghiên cứu lịch sử địa phương và tài liệu điền dã thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về vùng đất, con người và tình hình kinh tế - xã hội huyện Thọ Xuân trước năm 1986
Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về điều kiện tự nhiên, hành chính, truyền thống văn hóa - lịch sử và diện mạo kinh tế - xã hội Thọ Xuân từ sau năm 1975 đến trước thời điểm Đổi mới:
- Địa lý và địa hình: Tọa độ địa lý từ 19°50' đến 20°00' vĩ độ Bắc, 105°25' đến 105°30' kinh độ Đông. Đến năm 2005, huyện có 38 xã và 3 thị trấn (Lam Sơn, Sao Vàng, Thọ Xuân); trong đó có 5 xã miền núi (Xuân Thắng, Xuân Phú, Thọ Lâm, Quảng Phú, Xuân Châu). Địa hình gồm hai vùng chính: vùng Bán sơn địa (chiếm 53% diện tích tự nhiên, gồm 11 xã và 2 thị trấn, cao trình từ +20m đến +50m) và vùng Đồng bằng (chiếm gần 50% diện tích, gồm 27 xã và 1 thị trấn, cao trình +6m đến +17m). Hệ thống sông ngòi có sông Chu (chảy qua huyện 29,4 km) và sông Cầu Chay (chảy qua 24 km).
- Cơ cấu đất đai (năm 2005): Đất nông nghiệp đạt 18.211,53 ha (chiếm 60,63% diện tích tự nhiên); đất lâm nghiệp 2.122,32 ha (7,6%); đất phi nông nghiệp 8.808,15 ha (29,32%); đất chuyên dùng 4.444,83 ha (14,8%); đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1.468,36 ha (4,88%); đất chưa sử dụng 3.015,90 ha (10,04%).
- Truyền thống lịch sử - xã hội: Thọ Xuân là vùng đất gắn liền với hai vị vua Lê Đại Hành và Lê Lợi; nơi có khu di tích quốc gia Lam Kinh, đền thờ Lê Hoàn, kinh đô kháng chiến Vạn Lại - Yên Trường (1546–1593) và là nơi thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản tỉnh Thanh Hóa (tại làng Yên Trường, xã Thọ Lập). Trong thời kỳ phong kiến, Thọ Xuân có 12 vị đỗ Đại khoa được khắc bia tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
- Tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 1975–1985:
- Nông nghiệp: Sản lượng lương thực năm 1977 đạt 51.000 tấn; đến năm 1985 đạt 75.000 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 330–350 kg/năm. Đàn trâu bò năm 1985 đạt 23.100 con, đàn lợn đạt 54.600 con.
- Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp: Chiếm khoảng 6,7% giá trị kinh tế toàn huyện; quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu là cơ khí nông cụ, sản xuất gạch ngói và Nhà máy giấy Mục Sơn (thành lập năm 1968). Nhà máy đường Lam Sơn khởi công năm 1981 nhưng chưa đi vào vận hành.
- Thương nghiệp, dịch vụ và tài chính: Mạng lưới mang tính bao cấp, hàng hóa khan hiếm; năm 1985 tổng thu ngân sách huyện đạt khoảng 850 triệu đồng.
- Văn hóa, giáo dục, y tế: Hoàn thành cơ bản việc xóa mù chữ; toàn huyện có 38 trường cấp I-II, 3 trường cấp III; Bệnh viện huyện quy mô 150–200 giường. Nhìn chung đời sống nhân dân thời kỳ này còn gặp nhiều khó khăn do cơ chế quản lý cứng nhắc.
Chương 2: Chuyển biến về kinh tế huyện Thọ Xuân từ năm 1986 đến năm 2005
Chương này phân tích quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thọ Xuân qua các chặng đường:
- Giai đoạn 1986–1995:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,4% (1986–1990) và tăng lên 10,2% (1991–1995). Thu nhập bình quân đầu người năm 1995 đạt 219,4 USD.
- Năng suất lúa bình quân toàn huyện tăng từ 4 tấn/ha (1986) lên 5 tấn/ha (1994). Tổng sản lượng lương thực tăng từ 73.436 tấn (1986) lên 79.400 tấn (1995).
- Cây công nghiệp ngắn ngày phát triển mạnh, đặc biệt là hình thành vùng chuyên canh mía nguyên liệu phục vụ Nhà máy đường Lam Sơn: diện tích mía tăng từ 475 ha (1986) lên 2.112 ha (1995), sản lượng tăng từ khoảng 16.000–17.000 tấn lên 128.000 tấn.
- Vụ đông được nâng lên thành vụ sản xuất chính; diện tích gieo trồng vụ đông tăng từ 2.460 ha (1986) lên 3.420 ha (1995).
- Chăn nuôi chuyển dịch sang quy mô trang trại: đàn trâu bò đạt 25.000 con (1995); đàn lợn tăng lên 75.000 con (tỷ lệ lai F1 đạt 50–55%, trọng lượng xuất chuồng bình quân tăng từ 64 kg lên 78,5 kg/con).
| Chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp |
Năm 1986 |
Năm 1995 |
Năm 2000 |
| Tỷ trọng ngành Trồng trọt (%) |
70,1% |
65,2% |
60,3% |
| Tỷ trọng ngành Chăn nuôi (%) |
21,2% (năm 1980) |
25,0% |
31,6% |
| Tỷ trọng ngành Lâm nghiệp (%) |
— |
— |
8,1% |
| Tổng sản lượng lương thực có hạt (tấn) |
73.436 |
76.346 |
100.238 (năm 1999) |
| Lương thực bình quân đầu người (kg/năm) |
332 (1980) |
336 (1998) |
426 (1999) / 401 (2000) |
| Diện tích mía nguyên liệu (ha) |
475 |
2.112 |
3.271 |
| Năng suất mía (tạ/ha) |
— |
— |
579 |
| Sản lượng mía (tấn) |
16.000–17.000 |
128.000 |
161.918 |
- Giai đoạn 1996–2005:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì mức bình quân 10,2%/năm.
- Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng giảm tỷ trọng trồng trọt (từ 65,2% năm 1995 xuống 60,3% năm 2000) và tăng tỷ trọng chăn nuôi (từ 25,7% năm 1995 lên 31,6% năm 2000).
- Sản lượng cây lương thực có hạt tăng liên tục: từ 76.346 tấn (1995) lên 86.058 tấn (1998) và đạt 100.238 tấn (1999).
- Vùng mía nguyên liệu tiếp tục mở rộng lên 3.271 ha vào năm 2000 (gấp gần 8 lần so với năm 1986), năng suất đạt 579 tạ/ha, sản lượng đạt 161.918 tấn.
- Các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (sản xuất đường mía, giấy Mục Sơn, vật liệu xây dựng) và hoạt động thương mại - tín dụng từng bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu hàng hóa qua các trục giao thông (Quốc lộ 47, Quốc lộ 15, đường Hồ Chí Minh).
Chương 3: Chuyển biến về xã hội huyện Thọ Xuân từ năm 1986 đến năm 2005
Chương 3 trình bày các biến đổi trên các mặt đời sống xã hội tương ứng với sự phát triển kinh tế:
- Lao động và việc làm: Từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động từ thuần nông sang các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và chế biến nông sản; mở rộng đào tạo nghề và giải quyết việc làm tại chỗ.
- Văn hóa, thông tin và thể thao: Mạng lưới đài truyền thanh tuyến cơ sở được củng cố và hiện đại hóa; phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" gắn với việc xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa; bảo tồn và trùng tu các di tích lịch sử trọng điểm như Lam Kinh, đền thờ Lê Hoàn, nhà lưu niệm nơi thành lập Đảng bộ tỉnh.
- Giáo dục và đào tạo: Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; củng cố mạng lưới trường lớp từ mầm non đến trung học phổ thông, nâng cao tỷ lệ phòng học kiên cố và chất lượng đội ngũ giáo viên.
- Y tế và chăm sóc sức khỏe: Mạng lưới y tế cơ sở được nâng cấp; 100% trạm y tế xã có cán bộ y tế hoạt động; triển khai hiệu quả chương trình tiêm chủng mở rộng phòng các bệnh truyền nhiễm cho trẻ em; tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh tăng lên; thực hiện các chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo và phong trào "Đền ơn đáp nghĩa".
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khóa luận đã hệ thống hóa quá trình phát triển của huyện Thọ Xuân từ một nền nông nghiệp tự cấp tự túc, chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế quan liêu bao cấp trước năm 1986, từng bước chuyển mình thành một huyện phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa đa dạng.
- Làm rõ các mốc tăng trưởng kinh tế thông qua hệ thống số liệu cụ thể: sản lượng lương thực tăng từ 73.436 tấn (1986) lên trên 100.238 tấn (1999); sản lượng mía nguyên liệu tăng từ 16.000–17.000 tấn lên 161.918 tấn (năm 2000); đàn lợn tăng từ 54.600 con lên trên 75.000 con; đời sống nhân dân được cải thiện với mức bình quân lương thực vượt trên 400 kg/người/năm.
- Chỉ ra sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý: đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính, mở rộng diện tích ngô lai, đậu tương, mía đồi và cải tạo đàn vật nuôi bằng các giống lai (bò lai Sind, lợn lai F1).
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn; phát triển công nghiệp chế biến gắn với các vùng nguyên liệu tập trung (mía đường, giấy, nông sản).
- Đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống thủy lợi tưới tiêu (kênh mương, trạm bơm), mạng lưới giao thông liên xã và đê điều phòng chống lũ lụt sông Chu, sông Cầu Chay.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
- Kết hợp phát triển kinh tế với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa - lịch sử (khu di tích Lam Kinh, đền Lê Hoàn, Vạn Lại - Yên Trường) nhằm thúc đẩy du lịch văn hóa.
Đóng góp của luận văn
- Tái hiện bức tranh toàn cảnh, có hệ thống và khách quan về quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Thọ Xuân trong 20 năm đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986–2005).
- Khắc phục tình trạng nguồn tư liệu về địa phương trước đây chỉ nằm rải rác trong các báo cáo hành chính hoặc niên giám thống kê đơn lẻ.
- Cung cấp luận cứ thực tiễn giúp các cấp lãnh đạo địa phương tham khảo trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời đóng góp tài liệu phục vụ công tác giảng dạy lịch sử địa phương tại các trường trung học phổ thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận văn chủ yếu tập trung phân tích sâu trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và nông thôn; các dữ liệu chi tiết về ngành thương mại, dịch vụ, tài chính - ngân hàng và công nghiệp ngoài quốc doanh trong giai đoạn 2001–2005 còn được trình bày ở mức độ khái quát do nguồn thống kê lưu trữ cơ sở có phần phân tán.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển dịch vụ tại các thị trấn, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện (khu vực Lam Sơn - Sao Vàng) trong giai đoạn sau năm 2005 khi Cảng hàng không Thọ Xuân và các tuyến giao thông liên vùng được đầu tư nâng cấp.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Lịch sử, Lịch sử Đảng, Địa lý kinh tế và Kinh tế phát triển; giáo viên giảng dạy môn Lịch sử địa phương tỉnh Thanh Hóa tại các trường THCS và THPT; cán bộ quản lý, nghiên cứu tại các cơ quan ban ngành huyện Thọ Xuân và tỉnh Thanh Hóa.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Khung số liệu thống kê lịch sử kinh tế nông nghiệp (lương thực, chăn nuôi, vùng nguyên liệu mía Lam Sơn) giai đoạn 1975–2000 tại Chương 1 và Chương 2.
- Nguồn tư liệu khảo cứu về hệ thống di tích lịch sử, địa lý tự nhiên và địa giới hành chính huyện Thọ Xuân.
Câu hỏi thường gặp
1. Vị trí địa lý và đặc điểm phân bố địa hình tự nhiên của huyện Thọ Xuân có đặc trưng gì?
Thọ Xuân nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi ở phía tây bắc thành phố Thanh Hóa (cách trung tâm tỉnh 36 km), với diện tích tự nhiên được chia thành hai vùng rõ rệt: vùng Bán sơn địa (chiếm 53% diện tích, gồm 11 xã và 2 thị trấn, cao trình +20m đến +50m) và vùng Đồng bằng (gần 50% diện tích, gồm 27 xã và 1 thị trấn, cao trình +6m đến +17m). Huyện có hai hệ thống sông chính chảy qua là sông Chu (29,4 km) và sông Cầu Chay (24 km).
2. Giai đoạn 1975–1985, tình hình sản xuất lương thực của huyện Thọ Xuân đạt kết quả ra sao?
Trong giai đoạn 1975–1980, sản lượng lương thực năm 1977 đạt 51.000 tấn. Sang kế hoạch 5 năm 1981–1985, tổng sản lượng lương thực đạt 75.000 tấn vào năm 1985, mức bình quân lương thực đầu người đạt 330–350 kg/năm (thuộc nhóm cao của tỉnh Thanh Hóa), đàn trâu bò đạt 23.100 con và đàn lợn đạt 54.600 con.
3. Ngành mía đường huyện Thọ Xuân có bước chuyển biến như thế nào từ năm 1986 đến năm 2000?
Năm 1986, diện tích trồng mía nguyên liệu toàn huyện chỉ đạt 475 ha với sản lượng khoảng 16.000–17.000 tấn. Nhờ gắn liền với hoạt động của Nhà máy đường Lam Sơn, đến năm 1995 diện tích tăng lên 2.112 ha (sản lượng 128.000 tấn), và đến năm 2000 đạt 3.271 ha (tăng gần 8 lần so với năm 1986), năng suất đạt 579 tạ/ha và tổng sản lượng đạt 161.918 tấn.
4. Tổng sản lượng cây lương thực có hạt của Thọ Xuân trong giai đoạn 1995–1999 thay đổi như thế nào?
Sản lượng lương thực có hạt tăng trưởng liên tục qua các năm: từ 76.346 tấn (1995) lên 86.058 tấn (1998) và đạt 100.238 tấn (1999). Lương thực bình quân đầu người tăng từ 336 kg (1998) lên 426 kg (1999).
5. Thọ Xuân có những di tích lịch sử và danh nhân tiêu biểu nào được văn bản nêu rõ?
Thọ Xuân là đất "hai vua" gắn với Lê Đại Hành (đền thờ tại làng Trung Lập, xã Xuân Lập) và Lê Lợi (Khu di tích Lam Kinh tại thị trấn Lam Sơn/xã Xuân Lam); là nơi đặt thủ đô kháng chiến thời Lê Trung Hưng là Vạn Lại - Yên Trường (1546–1593) và là nơi thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa tại nhà ông Lê Văn Sĩ (xã Thọ Lập). Toàn huyện có 12 vị đỗ Đại khoa thời phong kiến được khắc bia tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Nhường đã dựng lại bức tranh toàn diện và khách quan về chặng đường 20 năm chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Thọ Xuân từ năm 1986 đến năm 2005. Công trình làm nổi bật quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, nâng cao năng suất lương thực và hình thành các vùng chuyên canh mía đường, chăn nuôi quy mô lớn. Kết quả nghiên cứu không chỉ đúc kết những bài học lịch sử có giá trị thực tiễn đối với sự phát triển của địa phương mà còn là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu lịch sử địa phương tỉnh Thanh Hóa.