Chương I:Khái quất vẻ vùng đất con người và tình hình kinh tế - xã hội huyện Tho Xuân (tinh Thanh Hoá) trước nam 1986. e Chương 2: Chuyển biến về kinh tế huyện Thọ xuân từ 1986-2005 © Chương 3: Chuyển biến về xã hội huyện Thọ Xuân 1986-2005, Khoá luận tốt nghiệp CHƯƠNG | KHÁI QUÁT VE VUNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TINH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN THỌ XUÂN TRƯỚC NĂM 1986, 1. Khái quát về mảnh đất, con người Thọ Xuân. BAN BO HANH CHÍNH Thọ Xuân là huyện nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và miễn núi ở phía tây bắc thành phố Thanh Hóa với toa độ địa lý 19°50 -20°00 vĩ độ bắc, 105°25 -105°30 kinh độ đông.
Phía bắc, tây bắc giáp huyện Ngọc Lac và một phan nhỏ của huyện Cẩm Thủy, phía nam giáp huyện Triệu Sơn, phía tây giáp huyện Thường Xuân, phía đông và đông bắc giáp huyện Yên Định. phía đông và đông nam giáp huyện Thiệu Hóa. Mặc dù, đã cất đi 13 xã để thành lập | huyện mới là Triệu Sơn năm 1964, nhưng hiện nay Thọ Xuân vẫn là một trong hai huyện lớn của tỉnh Thanh Hóa. Theo số liệu điều tra năm 2005, tổng diện tích tư nhiên của toàn huyện là 30.
Trong đó gồm: đất nông nghiệp là 1821,53 ha (chiếm 60,63% diện Khoá luận tốt nghiệp tích tự nhiên của toàn huyện), đất lâm nghiệp 212,32 ha (chiếm 7,6%), đất phi nông nghiệp là 8808,15 ha (chiếm 29,32%), đất chuyên dùng là 444,83 ha (chiếm 14.8 %), đất sông suối và mặt nước chuyên dùng là 1468.36 ha (chiếm 4,88 %), đất chưa sử dung là 3015, 90 ha (chiếm 10, 04 %)/*5 '”' Hiện nay, toàn huyện có 38 xã (Xuân Khánh, Thọ Nguyên, Xuân Thành, Hanh Phúc, Bắc Lương. Nam Giang, Xuân Phong. Tho Lộc, Xuân Trường, Xuân Hòa. Thọ Hải, Tây Hồ.
Xuân Giang, Xuân Quang, Xuân Sdn, Xuân Hưng, Tho Diện, Thọ Lam, Thọ Xương. Xuân Bái, Xuân Phú, Xuân Thắng, Xuân Lam, Xuân Thiên, Thọ Minh, Xuân Châu, Thọ Lập, Quảng Phú, Xuân Tín, Phú Yên, Xuân Lai, Xuân Lập, Thọ Thang, Xuân Minh, Xuân Tân, Xuân Vinh, Tho Trường), và 3 thi trấn (‘Thi trấn Lam Sơn, thị trấn Sao Vàng, thị trấn Thọ Xuân). Năm đơn vị được công nhân là xã mién núi là: Xuân Thắng. Xuân Phú, Tho Lam, Quảng Phú, Xuân Chau, Vị trí địa lí: Tho Xuân ở vào vị trí cửa ngõ nối liền đồng bằng với trung du miễn núi, có dòng sông Chu, sân bay Sao Vàng, đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 47 đi qua đã trở thành vùng đất mở thuận lợi cho việc hội nhập.
giao lưu với các vùng miễn trong tỉnh. Từ thành phố Thanh Hóa theo trục đường 47 đến huyện li Tho Xuân chỉ có 36 km. lên biên giới Na Mèo gắn 150 km và ra thủ đô Hà Nội theo con đường Hồ Chí Minh cũng chỉ hơn 130 km. Trong suốt trường kì lịch sử vùng đất này đã trở thành điểm hen lí tưởng cho ddng người từ các phương đổ về khai phá lập nghiệp.
sinh tổn và phát triển thành một huyện Tho Xuân giàu đẹp như ngày hôm nay. Địa hình: Tho Xuân có thể chia thành hai dang cơ bản là vùng trung du đổi núi thấp và vùng đồng bằng rông lớn tiêu biểu của xứ Thanh. Nhìn toàn cục, địa hình Thu Xuân nghiêng từ tây bắc xuống đông nam. Ở vùng đổi núi nơi cao nhất không quá 200 m mà chủ yếu từ 150 m trở xuống.
từ 20 m trở đi là đồng bằng sông Chu nổi tiếng với cánh đồng Ba Cha, Do địa hình nghiêng đốc từ tây bắc xuống đông nam nên các dòng sông đều chảy theo hướng đó. 9 Khoá luân tốt nghié Hai vùng địa hình chính của Thọ Xuân là: Vùng Bán Sơn Địa (hay còn gọi là vùng trung du), được trải rong từ tây bắc xuống đông nam bao gồm 11 xã và 2 thị trấn với bình đô phân bố từ+20m đến +50m .Vùng này chiếm 53% điện tích đất dai toàn huyện chia thành hai tiểu vùng khác nhau: > Vùng đối núi thấp bao quanh phía bắc của huyện gốm 6 xã và môt phan của nông trường Thống Nhất có cao trình từ +15m đến +l 50m. > Vùng đổi núi thấp bao quanh phía tây nam của huyện gồm cao trình phân bế từ +15m đến +150m, Hau hết, bán sơn dia là đồi núi thấp chay liền mạch nhấp nhô như bát úp. 4 Vùng Đồng Bằng gồm 27 xã và ! thị trấn nằm về 2 phía tả ngạn và hữu ngan của sông Chu, có cao trình phân bố từ + 6m đến + 17m.
Vùng này chiếm gắn 50% diện tích đất đai toàn huyện, chia thành vùng hữu ngan sông Chu gồm 17 xã 1 thi trấn và vùng tả ngan Sông Chu gồm 9 xã. Năm 2004, Tho Xuân đã làm xong việc phân loại địa hình theo độ dốc trên cơ sở phân tích phân hóa thổ nhưỡng cho 26.262 ha đất một cách cu thể như sau: > Loại địa hình dưới 15" diện tích là 3.4416 ha ( chiếm 80% diện tích tự nhiên) là đất để trồng phát triển nông- lâm- ngư nghiệp, xây dung cơ sở hạ tang. > Loại địa hình lớn hơn 15”, nhỏ hơn 25°, điện tích khoảng 1.575 ha (chiếm 2,5% diện tích tự nhiên) thích hợp cho phát triển nông- lâm- ngư nghiệp, cây ăn quả. > Loại địa hình trên 25" diện tích 127 ha (chiếm 0,85 % diện tích tự nhiên) chủ yếu là trồng rừng phòng hộ.
Ngoài ra,Tho Xuân còn có 4.044, 04 ha sông suối mặt nước chưa sử dụng'***”!, Đất đai: Là huyện đồng bằng châu thổ sông Chu. sông Mã tiếp giáp với vùng trung du miền núi nên đất đai của huyện Thọ Xuân được hình thành trên sản phẩm phong hóa của các loại đá mẹ và mẫu chất tích tụ từ tác động của sông biển. 10 Khoá luận tốt nghiệp Theo điều tra nông hóa thổ nhưỡng thì diện tích đất dai của Tho Xuân chia làm 4 nhóm chính là: nhóm đất xám, nhóm đất phù sa, nhóm đất đỏ và nhóm đất tầng mỏng. Tho xuân có hai vùng đất chính là: đất ruộng bãi (chiếm 2/3 tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện), đây là vùng trọng điểm lúa mau tiêu biểu của các huyện đồng bằng tỉnh Thanh Hóa.
Đất vùng này có tang dày, khả năng cải tạo, canh tác, thâm canh rất thuận lợi, tỉ lệ sử dụng cao, phân bố ở các xã ven sông như : Tho Hải, Xuân Trường. Thi wan Thọ Xuân, Hạnh Phúc, Xuân Thanh, Xuân Bai. Vùng đất đổi (chiếm 14 diện tích canh tác), tập trung ở phía tây và phía bắc của huyện. Đây là vùng có diéu kiện thuận lợi để huyện tập trung phát triển nhiều loại cây trồng một cách có hiệu quả như: cây công nghiệp ngắn ngày (mia, lac, đâu tương.), cây công nghiệp dai ngày (cà phê, cao su), cây ăn quả (cam, quýt, bưởi .), cây lắm nghiệp.
Khí hậu: La vùng tiếp giáp giữa hai nền khí hau của đồng bằng Bắc bộ va khu bốn cũ, sự tiếp nối của đồng bằng với trung du mién núi nên trong mặt bằng chung khí hậu của huyện Thọ Xuân vẫn là vùng khí hậu của khu vực nhiệt đới gió mùa. Theo số liệu điều tra khảo sát của cơ quan khí tương trong tinh, khí hậu của huyện Tho Xuân được biết cụ thể như sau: e Nhiét độ không khí: bình quân năm là 23,4°c, trung bình cao là 26,7", trung bình thấp là 20,3°c, bién độ ngày và đêm cách nhau 6,4“c. se Lượng mưa bình quản năm là 1911,2mm, năm cao nhất là 3929,3 mm (nắm 1925), nam thập nhất là 1459mm, tháng lớn nhất là 760 mm (tháng9) tháng nhỏ nhất 3 mm( tháng | ). e Độ ẩm không khí bình quân 8,6%, trung bình cao là 97%, trung bình thấp là 60%.
e Lượng mưa bốc hơi: bình quân là 778.10mm, tháng cao nhất là 84.4 mm (thing7), tháng thấp nhất là 418. Khoá luận tốt nghiệp e© Thường có sương mù xuất hiện vào mùa đông và mùa xuân, (số ngày có sương mù trong năm từ 21dén 26 ngày), xuất hiện tập trung trong tháng 10, 11, 12 có tác dung tăng thêm độ ẩm cho không khí và độ ẩm cho mat đất. Những năm rét nhiều thì có hiện tượng sương muối (vào thang! tháng 2) nhưng mức đô không én!" Hàng năm, Thọ Xuân có hai mùa rõ rệt là: mùa đông có gió mùa đông bắc rét và hanh khô (khoảng từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau), mùa hè thường có gió mùa đông nam từ tháng (4 đến tháng 8) đưa hơi nước từ biển vào tao sự mắt mẻ hoặc mưa. Ngoài ra, mùa nay còn có gió tây nam mà dan gian goi là gió Lao (thường hay xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7) gây ra tình trạng nóng và khô han kéo đài từ 12 đến 15 ngày ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt của người dân.
Hướng gió thịnh hành nhất là hướng gió đông nam tốc độ bình quân là khoảng 1.3 m/s, lớn nhất là 20m/s. Trong nam, từ tháng 7 đến tháng 10 thường có bão đổ bô từ biển vào tốc độ gió cấp 8 cấp 9 cá biệt có cấp 11,12, kéo theo mưa to gây nhiều thiệt hại cho mùa màng, cây cối, đất dai nói chung. Từ những số liệu trên, có thể rút ra nhân xét chung là khí hâu của Tho Xuân cũng là khí hậu của một mùa đông lanh, khô và mot mùa hè mưa có nhiều bão lụt kèm theo, Sông ngòi: Tho Xuân có hệ thống sông ngòi, khe. lach, hón, rất phong phú.
Các hệ thống sông lớn như: Sông Chu, Sông Cau Chay, Sông Hón Lù, Sông Tré. Đặc biệt, Sông Chu từ xưa tới nay luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng về nhiều mat đối với vùng đất Tho Xuân. Đây là mot nhánh sông lớn nhất của hệ thống sông Mã và lớn thứ hai ở tỉnh Thanh Hóa, có chiếu dai khoảng 325 km, xuất phát từ cao nguyên Sầm Nưa (Lào) trên độ dốc cao 1 100m, trườn mình theo hướng tây đông nam đến Nghệ An thì chuyển qua hướng đông chảy vào các huyện: Thường Xuân, Tho Xuân rồi nhập vào hệ thống sông Mã ở Ngã Ba Giang. Phan chảy qua huyện Tho Xuân dai 29.4 km, chính sông Chu tạo ra cho Thọ Xuân mot Khoá luận tốt nghiệ khu vực đồng bằng phù sa tiêu biểu, rông lớn vào bậc nhất xứ Thanh trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, tao ra sự giao lưu giữa các vùng môi cách thuận lợi.
Sông Cầu Chay có chiều dài 87,5 km, chảy qua huyện Tho Xuân khoảng 24km. Ngoài ra, còn có sông Hoàng Giang, sông Hon Lù, sông Dừa. Về mặt tổng thể chung ta thấy, hệ thống sông ngòi ở huyện Tho Xuân so với nhiều đồng bằng khác trong tỉnh là rất đổi dào và phong phú. Đó là chưa kể tới hệ thống sông Nông Giang, Dap Bái Thượng chảy được hấu khắp các xã đồng bằng vùng tả ngạn Sông Chu.