mở đầu, phan kết luận và kiến nghị, danh mục các bài báo liên quan đến nghiên cứu, tài liệu tham khảo, phụ lục, các trang chính văn của khóa luận kết cầu gồm 3 Chương: + Chương |. Cơ sở lý luận của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn; + Chương 2. Thiết kế hoạt động dạy học một số nội dung Công và năng lượng theo mô hình dạy học SE; + Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VIỆC PHÁT TRIEN NANG LUC VẬN DỤNG KIÊN THỨC, KĨ NĂNG VÀO THUC TIEN 1. Tông quan tình hình nghiên cứu đề tai 1. Các nghiên cứu về năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn Đề hoàn thành mục tiêu giáo dục mới, người GV đóng vai trỏ quan trọng và chủ đạo thúc day HS phát triển các thành phan năng lực và đặc biệt là NUVDKTKN của HS và đó cũng la hướng nghiên cứu của nhiêu tác giả vào những năm gân đây có thê kê đến như: + Tác giả Trần Thái Toàn (2018) với đề tai *Một số biện pháp phát triển kĩ năng vận dụng kiến thức vao thực tiễn cho HS trong dạy học Sinh học trung học phô thông”. + Tác giả Nguyễn Thị Thu Hang (2018) với dé tài “Đánh giá nang lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh trong dạy học phần Sinh học vi sinh vat — Sinh học 10”.
+ Tác giả Mai Văn Hưng (2021) với đề tai “Thiét kế bài học tích hợp nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức liên môn vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học Sinh học 11”. + Tác giả Lê Thị Minh Hạnh (2018) với dé tài *Xây dựng va sử dụng bài tập thực tế chương “Cam ứng điện từ” — Vật lí 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh”, + Tác giả Ngô Thị Trường Giang (2020) với dé tài “Xay dựng và sử dụng bai tập có nội dung thực tế chương “Dong điện trong các môi trường" vật lí 11 nhằm phat triển năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiên cho học sinh”. + Tác giả Đặng Thị Mỹ Hiện (2019) với đề tài “Xay dựng bài tập có nội dung thực tế phần “các định luật bảo toản — Vật lí 10” theo định hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh”. + Tác giả Cao Nữ Thùy Linh (2019) với dé tài *Xây dựng và sử dụng bài tập có nội dung thực tế chương “dòng điện không đôi” — Vật lí 11 hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn của học sinh".
Không chi dừng lại ở cap THPT mà các nhà nghiên cứu cũng hướng đến việc thúc đây năng lực này ở cả cấp sinh viên đại học như tác giả Nguyễn Thị Thu Nhung (2018) với đề tải “Một số biện pháp phát triển năng lực vận đụng kiến thức vào thực tiễn cho sinh viên trong dạy học môn Toán cao cấp ở trường đại học Sư phạm kĩ thuật Vịnh". Có thé thấy rằng hướng nghiên cứu này sẽ được khai thác nhiều hơn trong tương lai nhằm giúp các GV tận dụng triệt dé các bài học dé phát trién năng lực của HS THPT. Các nghiên cứu về dạy học nội dung Công và năng lượng cấp THPT Mạch nội dung “Công. năng lượng và công suất” có thé nói là mạch nội dung quan trọng ở chương trình mới cấp THPT trong CT GDPT 2018 khi chiếm thời lượng 10% trong toàn bộ thời gian dạy học Vat lí, tuy nhiên có khá ít các bai nghiên cứu về nội dung “Công và năng lượng", một số bài nghiên cứu tiêu biểu như của tác giả Thapanya Thongkhan (2017) với dé tài “Tổ chức day học chương Công và năng lượng Vật lí 10 theo hướng phát huy tính tích cực.
tự lực và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh”, không chỉ phù hợp ở việc học tập chính khóa ma nội dung Công và năng lượng được tác giả dạy học thông qua tiết học ngoại khóa của tác giả Hoàng Thị Biên (2012) với dé tài “T6 chức day hoc dy án thông qua hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần Công — năng lượng Vật lí lớp 10 nâng cao” va thậm chí mạch nội dung nay cũng được dạy chính khóa tại đất nước láng giéng của chúng ta - Lào với đề tài “Van dụng mô hình day học theo chú đề vào day học chương Công va năng lượng Vật lí 10 trung học phô thông ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lao” của tác giả Nanthavong Sengthong (2015). Day là mạch nội dung có kiến thức gan gũi, quen thuộc với HS vì vậy mạch nội dung này cần được khai thác nhiều hơn đề dạy học phát triển năng lực của HS đáp ứng mục tiêu day học mới của giáo dục Việt Nam. Các nghiên cứu về mô hình dạy học 5E Trước đây, mô hình day học SE đã được triển khai bước đầu ở Việt Nam từ những năm 2012. tại Việt Nam hiện nay, mô hình dạy học SE đang khá phát triển, nhất là đất nước ta đang trong giai đoạn đôi mới về giáo dục và thực hiện dạy học theo CT GDPT 2018.
Một số bài nghiên cứu của những năm gần đây ứng dụng mô hình dạy học 5E vào day học chương “Chất khí" Vật lí 10 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh” đã cho thay mô hình day học nay đã góp phan phát trién dang ké ki nang hoc tập của HS THPT (Nguyễn Đăng Thuan và Nguyễn Hoang Phúc, 2020). Cac bài nghiên cứu của các tác gia Châu Thị My Uy (2017), Tran Thi Luu (2018). Đỗ Quynh Mai va Nguyễn Hữu Hạnh (2018), Ninh Thị Bạch Diệp (2020) déu cho thay rằng mô hình day học 5E có nhiều ưu điểm trong việc hình thành và phát triển năng lực cho HS - đây cũng là mục tiêu mà CT GDPT 2018 hướng tới trong tương lai gần sắp tới. Bên cạnh đó, mô hình dạy học này có nhiều ưu điểm hơn rất nhiều so các phương pháp dạy học truyền thông, truyền thụ một chiều it có được, chăng hạn như giúp HS bước dau thay phan khởi và thích thú khi làm việc nhóm trong các hoạt 9 động học tap, tự làm nghiên cứu nhỏ và thuyết trình các sản phẩm minh (Tran Thị Lựu, 2018).
Không chi phù hợp với các cấp THPT mà mô hình này cũng được vận dụng nhiều ở cấp tiêu học để day môn Khoa học như bài nghiên cứu của tác giá Vũ Thị Minh Nguyệt với đề tài “Vận dụng mô hình dạy học SE trong day học khoa học qua khám phá thiết kế kế hoạch bài học” và tác giả Trường Hoàng Thông với đề tài “Vận dung mô hình dạy học 5E trong thiết kế hoạt động dạy học nội dung Nước môn Khoa học lớp 4” đã khăng định khi vận dụng mô hình dạy học 5E không chỉ giúp HS hứng thú học tập, giúp giờ học trở nên nhẹ nhàng và đạt được hiệu quả cao hơn, mà còn giúp cho cả GV và HS thay được sự rõ rang vả liền mạch của nội dung đã học và đang học tránh sự sai sót không đáng có khi day học (Vũ Thị Minh Nguyệt, 2016), (Trương Hoàng Thông, 2016). Bên cạnh đó, tác giả Lai Thị Thùy An đã tiến hành thử nghiệm mô hình dạy học SE trong môn Khoa học lớp 4 nhằm mục đích phát triển nắng lực vận dụng kiến thức. ki nang vào thực tiễn cho HS. Kết quả nghiên cứu trên trường hợp 5 HS cho thay nang luc van dung kiên thức vào thực tiền bước dau được hình thành và phát trién khi học tập theo mô hình day học 5E.
Ngoài ra, tac giá cho rằng, những mảng kiến thức khoa học gắn với thực tiễn sẽ mang lại hiệu quả thiết thực nhất trong quá trình day học theo mô hình SE nham nang cao năng lực HS (Lai Thị Thùy An, 2020). Quá trình thực nghiệm sư phạm đẻ tải của hai tác giả Đỗ Anh Khuê (2014) và Nguyễn Thị Thành Nhơn (2016) khi vận dụng mô hình hình dạy học SE dé thiết kế bài dạy bằng tiếng Anh môn Hóa học và Vật lí theo chương trình IGCSE Cambridge cho thay HS có thái độ hợp tác tích cực, có sự tiến bộ hơn về cả ngôn ngữ lan nội dung môn học, đặc biệt là ở von từ vựng, khái niệm chuyên ngành và các nội dung liên quan đến ứng dụng va thực tiễn. Thông qua tông quan nghiên cứu van dé của các tác giả cho thay mô hình day học SE cực ki phù hợp với những môn khoa học như Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, sau khi xem xét những mặt tích cực mà mô hình dạy học SE mang lại. nhóm nghiên cứu nhận thấy néu vận dụng mô hình này vào môn Vật lí 10 trong điều kiện thực tiễn của giáo dục hiện nãy sẽ góp thêm một giải pháp hiệu quả dé thực hiện CT GDPT mới đó chính chú trọng là phát triên phẩm chất, năng lực, kĩ năng của HS.
Cơ sở lí luận về năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn 1. Nang lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vật lí vào thực tiễn 1. Khái niệm Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, Dao Thị Oanh: “Nang lực vận dụng kiến thức là kha năng của bản thân người học tự giải quyết những van dé đặt ra một cách nhanh 10 chóng và hiệu quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huồng. những hoạt động thực tiễn đề tìm hiểu thé giới xung quanh và có kha năng biến đi nó.
Nang lực vận dụng kiến thức thê hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thoả mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức”. “Ki nang vận dụng kiến thức vào thực tiễn là khả năng của cá nhân có thê thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động dựa trên kiến thức, kinh nghiệm đã có của bản thân hoặc tim tòi, khám phá kiến thức mới dé giải quyết được các van dé thực tiễn một cách có hiệu quả" (Tran Thái Toàn và Phan Thị Thanh Hội, 2017). Dựa trên các định nghĩa vừa nêu, chúng tôi định nghĩa năng lực vận dụng kiến thức, ki năng vật lí vào thực tiễn như sau: Nang lực vận dụng kiến thức, kĩ năng (NLVDKTKN) vật lí vào thực tiễn là khả năng của bản thân người học có thé tự huy động và vận dụng các kiến thức liên quan đến vật lí một cách thuần thục dé tiếp cận và giải quyết van đề, tình huong thực tiễn để đạt được hiệu quả cao. Biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức.
kĩ năng vật lí vào thực tiễn Chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá NLVDKTKN vật lí vào thực tiễn theo các ti¢u chi (Rubric).