CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ VÀ TỪ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG VIỆT 1. Khái niệm về từ, từ xưng hô trong tiếng Việt 1. Các quan điểm khác nhau về từ Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa để tạo ra câu nói; nó có hình thức, có một âm tiết, một khối viết liền” [6;168]. Ngoài ra, trong cuốn 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa về từ như sau: “Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ.
Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của các từ. Chính tổng thể các từ là vật liệu xây dựng mà thiếu nó thì không thể hình dung được một ngôn ngữ. Có thể chấp nhận một định nghĩa chung về từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [5;440]. Theo quan điểm của tác giả Ju.
Maxlov: “ Từ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất tương đối độc lập của ngôn ngữ. Tính tương đối độc lập của từ lớn hơn tính tương đối độc lập của các hình vị thể hiện một cách nhất quán ở sự vắng mặt trong từ, đường ranh giới nghiêm nhặt giữa các từ (dĩ nhiên, có đường ranh giới nghiêm nhặt giữa các bộ phận của từ), và ngoài ra ở khả năng một số lớn từ ( nhưng không phải là tất cả) có thể hoạt động như là câu tối giản (câu một từ) hay như là thành phần câu” [2;13]. Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Thu Thuỷ: “Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, của ngôn ngữ, là chỉnh thể gồm hai mặt (âm và nghĩa), có tính cố định, sẵn có, bắt buộc, là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có khả năng hoạt động tự do để tạo câu” [14;73]. Theo tác giả Mai Ngọc Chừ: “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có thể sử dụng độc lập để cấu tạo câu” [3;334].
Theo tác giả Đỗ Việt Hùng: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ có tính chất tín hiệu, từ có mặt biểu đạt (hình thức ngữ âm) và được biểu đạt (nghĩa, ý nghĩa)” [7;16]. Theo tác giả Mai Thị Kiều Phượng: “Từ là một đơn vị ngôn ngữ có tổng thể hữu cơ, có tính toàn khối chuyên biểu thị thực tế khách quan, bao gồm các đặc trưng về ngữ âm, các thuộc tính ngữ nghĩa và ngữ pháp, có thể tồn tại tách rời nhau và được tái hiện trong các lời nói khác nhau; là đơn vị lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ: chứa đựng trong lòng nó những đơn vị của các cấp độ dưới nó; là đơn vị có sẵn, cố định, bắt buộc (có tính chất xã hội); là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống ngôn ngữ: độc lập về ý nghĩa và hình thức, tạo nên các đơn vị cú pháp: cụm từ và câu” [11;394]. Theo tác giả Nguyễn Văn Tu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết, cố định bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo). Cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu” [15;14].
Theo tác giả Lê Văn Lý: “Từ trong tiếng Việt…là một tín hiệu ngữ âm có thể cấu tạo bằng một âm vị hay sự kết hợp với âm vị, mà sự phát âm chỉ tiến hành trong một lần hoặc là một âm tiết mà chữ viết biểu thị bằng một đơn vị tách rời và có một ý nghĩa hiểu được” [12;30]. GVHD: Bùi Thị Tâm 5 SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Mi Từ xưng hô trong tiểu thuyết Hòn Đất của nhà văn Anh Đức Theo Đái Xuân Ninh “Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ. Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở ngay hàng sau nó tức hình vị và thành lập một khối hoàn chỉnh” [9;24]. Các khái niệm trên đã khái quát lên phần nào sự phức tạp của việc nghiên cứu về từ trong tiếng Việt.
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể định nghĩa chung về từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, được sử dụng độc lập về ý nghĩa và hình thức. Mỗi tác giả ngôn ngữ đều định nghĩa riêng về từ. Sự khác nhau giữa các tác giả đó là do người nghiên cứu đứng ở góc độ đồng đại hay lịch đại, do cách hiểu về khái niệm hình vị trong ngôn ngữ học đại cương khác nhau, đã dẫn đến cách chọn đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các nhà ngôn ngữ khác nhau. Khái niệm từ xưng hô và cách phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt của các tác giả ngôn ngữ Từ xưng hô là lớp từ dùng để xưng và gọi đối tượng trong quá trình giao tiếp.
Quan điểm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp, ông đã định nghĩa từ xưng hô như sau: “Những từ được dùng để xưng hô với ai đó trong nói và viết. Cách thức mà người ta xưng hô với một người khác thường phụ thuộc vào tuổi tác giới tính, nhóm xã hội và quan hệ cá nhân. Nhiều ngôn ngữ có hình thức đại từ nhân xưng ngôi thứ hai khác nhau được sử dụng tuỳ theo người nói muốn xưng hô với đó một cách lịch sự hay ít nghi thức hơn. Chẳng hạn trong tiếng Đức Sie-du; trong tiếng Pháp, có vous-tu; tiếng Hán quan thoại có nín-nỉ.
Nếu một ngôn ngữ chỉ có một hình thức đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, chẳng hạn, tiếng Anh, thì những hình thức xưng hô khác được sử dụng để thể hiện tính nghi thức hay tính không nghi thức. Thí dụ: Sir, Mr Brown, Bill. Trong một số ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Hán, những từ chỉ quan hệ thân thích như cha, mẹ, bác, cô…và những từ chỉ địa vị như thầy giáo, cô giáo,…được dùng làm hình thức xưng hô. Những hình thức xưng hô của một ngôn ngữ được sắp xếp vào một hệ thống xưng hô phức tạp với những quy tắc sử dụng riêng mà nếu người nào muốn giao tiếp thích hợp thì cần phải học những quy tắc đó” [5;460 – 461].
Quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Nở, Nguyễn Văn Nở đã định nghĩa như sau: “Từ xưng hô là lớp từ dùng để tự xưng và gọi đối tượng khi giao tiếp. So với các lớp từ vựng khác, từ xưng hô không nhiều nhưng lại thường xuyên xuất hiện trong ngôn ngữ giao tế và được vận dụng rất đa dạng, phức tạp, gây không ít lúng túng cho người, các đối tượng khi tham gia cuộc thoại” [10;96]. Nguyễn Văn Nở đã phân loại lớp từ xưng hô theo tiêu chí chức năng như sau: Từ xưng hô dùng trong quan hệ thân tộc là những từ xưng hô được dùng theo tôn ti, trật tự: nhỏ như củ khoai theo vai mà gọi, xưng gọi sẽ dễ dàng hơn khi những người trong thân tộc ở chung một nhà và giao tiếp thường xuyên. Nhóm từ chỉ thân tộc bao gồm: vợ, chồng, dâu, rể, chắt, chút, chít, dượng, thím, cậu, mợ, dì, chú, bác, cô, cố, cụ, cốc, ông, bà, cha, mẹ, em, con, cháu… Từ xưng hô trong quan hệ xã hội: xưng khiêm hô tôn, là hạ mình nâng người.
Kế đến là cách gọi thay vai, cách gọi này có thể sử dụng được trong gia đình hoặc là ngoài xã hội, nhằm thể hiện thái độ lịch sự đối với đối tượng giao tiếp. Ví dụ: vợ của em trai, ta có thể gọi là thím/ mợ (thay vai cho con). Quan điểm của tác giả Hà Thiên Vạn, ông cho rằng: “Tiếng Việt có hệ thống các từ xưng hô (đại từ nhân xưng) hết sức phong phú và chi tiết. Tuỳ thuộc vào mối quan hệ xã hội hoặc quan hệ ngôi thứ, tuổi tác, mức độ quan hệ thân mật hay khách khí xã giao, thái độ tiếp chuyện,…giữa những người đối thoại, và tuỳ hoàn cảnh cụ thể mà người nói có thể và đúng ra là phải dùng các từ xưng hô riêng cho phù hợp GVHD: Bùi Thị Tâm 6 SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Mi Từ xưng hô trong tiểu thuyết Hòn Đất của nhà văn Anh Đức với từng trường hợp.
Tức là, mỗi từ xưng hô thường biểu thị một cách rõ ràng và cụ thể về quan hệ xã hội, quan hệ ngôi thứ, tuổi tác, tình cảm riêng,…giữa người nói và người đối thoại” [16;293]. Hà Thiên Vạn xếp từ xưng hô vào từ loại đại từ và ông cũng đã phân loại đại từ nhân xưng theo ngôi thứ: “Với ngôi thứ nhất thì có thể chấp nhận được các từ “tôi” và “chúng tôi”, “chúng ta”. Ngôi thứ ba số nhiều có thể tạm ổn với từ “họ”, nhưng ngôi thứ ba số ít thì rất bí; trong số các từ ông ấy, bà ấy, anh ấy, chị ấy, nó, hắn,…không thể chọn được từ nào dung hoà được với mọi đối tượng. Ngôi thứ hai cũng trong tình trạng tương tự; trong số rất nhiều từ ngôi thứ hai số ít: ông, bà, anh, chị, em, nhà ngươi, mày,…và ngôi thứ hai số nhiều: quý vị, các vị, mọi người, các người, các ông, các bà, các anh, các chị, các em, chúng mày,…cũng không có từ nào có thể dùng chung được với mọi đối tượng giao tiếp” [16;294].
Tác giả Diệp Quang Ban đã nhận định như sau: “Đại từ nhân xưng là từ dùng để trỏ vào người hay vật tham gia quá trình giao tiếp, có sự phân biệt giới tính và số lượng” [1;333]. Theo Diệp Quang Ban, từ xưng hô thuộc từ loại đại từ. Ông đã phân loại đại từ nhân xưng theo ngôi qua bảng sau: Bảng 1.1: Phân tích các đại từ nhân xưng tiếng Việt Nhân vật trong Đại từ nhân xưng Biệt chú giao tiếp Số đơn Số nhiều Người nói: ngôi tôi, tao, tớ, (ta), chúng tôi, chúng tao, - ta số đơn có sắc nhất mình chúng tớ, chúng mình thái tự tôn Người nghe: Mày, mi Chúng mày, chúng - ta có thể dùng ngôi hai bay, bay như chúng ta Người, vật được Nó, hắn, y Chúng nó, chúng - ta , chúng ta, nói đến: ngôi ba chúng mình có thể dùng làm ngôi thứ nhất bao gộp, chỉ gồm chung cả người nói và người nghe. Ngoài ra, còn có cách phân loại của tác giả Nguyễn Thị Thu Thuỷ.
Tác giả này đã phân loại từ xưng hô theo hai tiêu chí: từ loại và chức năng. Xét về mặt từ loại, ta có các từ xưng hô như sau: Những đại từ như tôi, tớ, ta, tao, mình, mày, bay, chúng mày, chúng ta, chúng mình, bọn mình…(chưa kể những đại từ phương ngữ như: tui, choa, qua, bậu,…).