Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu gia tăng sản xuất đã kéo theo nhiều tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái. Thực tế cho thấy nhiều cá nhân, doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận đã vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, thực hiện các hành vi gây ô nhiễm với thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp. Hậu quả của những hành vi này không chỉ hủy hoại môi sinh, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên mà còn ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến đời sống, sức khỏe và tài sản của người dân. Trước thực trạng xuất hiện nhiều sự cố môi trường gây bức xúc trong dư luận, việc thiết lập cơ chế pháp lý đồng bộ nhằm ràng buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại và đảm bảo đền bù thỏa đáng cho các nạn nhân trở thành một yêu cầu cấp bách. Mặc dù Hiến pháp năm 2013, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng các văn bản hướng dẫn đã ghi nhận chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, việc thực thi trên thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong khâu xác định thiệt hại, chứng minh mối quan hệ nhân quả và trình tự giải quyết bồi thường.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là khái quát cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường; đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả thực thi cơ chế bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực này.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận triển khai 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường của các chủ thể tại Việt Nam; nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia để chọn lọc các bài học kinh nghiệm phù hợp.
- Dựa trên các quy định của pháp luật dân sự hiện hành và Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường, tiến hành phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trên thực tế.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:
- Về nội dung và không gian: Khái niệm, cơ sở lý luận và ý nghĩa của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong Bộ luật Dân sự; quy định pháp luật quốc tế và một số quốc gia; thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn thi hành của các chủ thể vi phạm trên phạm vi cả nước.
- Về chủ thể: Các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường và các chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm khoa học pháp lý và quy định của pháp luật thực định. Về khái niệm môi trường, tác giả đối chiếu giữa định nghĩa trong Chương trình môi trường của UNESCO (1981) và Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên". Hành vi làm ô nhiễm môi trường được xác định là hành vi vi phạm pháp luật, làm biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật (Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020). Về mặt chế định dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường được xác định thuộc nhóm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (quy định tại Khoản 1 Điều 584 và Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015). Đề tài cũng vận dụng nguyên tắc quốc tế "người gây ô nhiễm phải trả tiền" (Polluter-Pays-Principle - PPP), vốn được khởi xướng bởi OECD năm 1972, ghi nhận tại Điều 130r(2) Hiệp ước EC, Nguyên tắc 16 Tuyên bố Rio năm 1992 và Điều 2 Nghị định thư Kyoto năm 1998.
Khung pháp lý được tác giả trích dẫn và phân tích trực tiếp bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013: Khoản 2 Điều 30, Điều 53, Khoản 3 Điều 63.
- Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 604, Điều 624) và Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 155, Điều 170, Điều 198, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 588, Điều 589, Điều 590, Điều 591, Điều 602).
- Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (Khoản 1 Điều 6).
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (Điều 92), Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (Điều 130, Điều 131, Điều 132, Điều 162).
- Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (Điều 115, Điều 118, Điều 144).
- Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/07/2022 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu 1992 (CLC 1992, có hiệu lực tại Việt Nam từ 17/06/2004).
Phương pháp luận của đề tài dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp lý luận chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp phân tích và diễn giải: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 để phân tích các quy định pháp luật, khái niệm và cấu thành pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
- Phương pháp so sánh luật học: Rà soát các quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (BLDS 2005 so với BLDS 2015, Luật BVMT 2005, 2014 so với 2020) và so sánh pháp luật một số quốc gia (Hoa Kỳ, Châu Âu, Bangladesh, Ấn Độ, Thái Lan, Phần Lan, Canada, Nga, Nhật Bản, Úc).
- Phương pháp nghiên cứu vụ việc (case study) và thống kê: Thu thập dữ liệu thực tế từ các vụ án, sự cố môi trường lớn tại Việt Nam (vụ Formosa Hà Tĩnh, vụ Công ty Vedan, vụ mỏ mangan MIMECO Phúc Sơn - Tuyên Quang, vụ vi phạm của 3 doanh nghiệp tại Cẩm Giang - Hải Dương năm 2023).
- Phương pháp bình luận và quy nạp: Sử dụng chủ yếu tại Chương 3 để đánh giá các bất cập trong thực tiễn và xây dựng các giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao; số liệu thống kê về môi trường công nghiệp; các báo cáo xử phạt vi phạm hành chính; cùng các công trình luận văn, bài báo khoa học chuyên ngành luật học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Chương này tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về hành vi làm ô nhiễm môi trường, bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực môi trường, các điều kiện phát sinh trách nhiệm và kinh nghiệm pháp luật quốc tế.
Hành vi làm ô nhiễm môi trường được phân tích với tư cách là một hành vi vi phạm pháp luật mang 4 đặc điểm cơ bản:
- Là hành vi trái pháp luật: Xâm phạm các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, làm phát sinh trách nhiệm hành chính, hình sự hoặc dân sự.
- Gây ra thiệt hại về môi trường: Bao gồm thiệt hại đối với môi trường tự nhiên (suy giảm chức năng, tính hữu ích) và thiệt hại gián tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của các cá nhân, tổ chức.
- Phát sinh trách nhiệm bồi thường ngay cả khi không có lỗi: Đây là đặc trưng riêng biệt được ghi nhận tại Điều 624 BLDS 2005 và Điều 602 BLDS 2015.
- Thường do nhiều chủ thể thực hiện trên phạm vi rộng: Khóa luận dẫn số liệu thống kê đến năm 2015, Việt Nam có hơn 20.000 doanh nghiệp, 130 khu công nghiệp và khu chế xuất; mỗi năm thải ra khoảng 15 triệu tấn rác thải, trong đó rác công nghiệp chiếm 17% và lượng rác nguy hại khoảng 130.000 tấn, gây khó khăn lớn cho việc giám định và phân định trách nhiệm.
Về bản chất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường là một dạng trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, mang các đặc điểm đặc thù: chủ thể gây thiệt hại chủ yếu là pháp nhân (doanh nghiệp); tồn tại sự bất cân xứng lớn về năng lực tài chính và khả năng tiếp cận pháp lý giữa bên gây ô nhiễm và nạn nhân (người dân, nông dân, ngư dân); luôn có sự xuất hiện của thiệt hại đối với môi trường tự nhiên (như vụ Formosa Hà Tĩnh thải hỗn hợp phenol, xyanua, hydroxit sắt tạo dạng mixel hủy hoại hệ sinh thái biển 4 tỉnh miền Trung); và trường hợp nhiều chủ thể cùng gây ô nhiễm thì phải chịu trách nhiệm liên đới (Điều 587 BLDS 2015).
Khóa luận phân tích 4 điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường theo Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP:
- Có thiệt hại thực tế xảy ra: Thiệt hại tài sản, thiệt hại sức khỏe, thiệt hại tính mạng và thiệt hại do suy giảm môi trường.
- Có hành vi trái pháp luật: Vi phạm các quy chuẩn kỹ thuật và quy định cấm của pháp luật bảo vệ môi trường.
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại: Phải chứng minh hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp hoặc quyết định dẫn đến tình trạng suy thoái môi trường và các thiệt hại thực tế tiếp theo (thực hiện qua 2 bước chứng minh).
- Yếu tố lỗi: Áp dụng nguyên tắc ngoại lệ theo Điều 602 BLDS 2015, chủ thể làm ô nhiễm môi trường phải bồi thường kể cả khi không có lỗi.
Về pháp luật quốc tế, tác giả phân tích nguyên tắc PPP và việc áp dụng tại Hoa Kỳ (Clean Air Act 1970, Clean Water Act 1977), Châu Âu (sử dụng công cụ thuế, phí), Bangladesh (1995), Ấn Độ (2006), Thái Lan; việc tham khảo Công ước CLC 1992 và Nguyên tắc 13 Tuyên bố Rio 1992 về hợp tác quốc tế trong bồi thường thiệt hại môi trường.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy định pháp luật thực định của Việt Nam về chủ thể, căn cứ, phương pháp xác định thiệt hại, nghĩa vụ chứng minh và thời hiệu khởi kiện.
Về chủ thể có nghĩa vụ bồi thường: Được xác định theo Điều 602 BLDS 2015, áp dụng với cá nhân và tổ chức. Đối với cá nhân, năng lực bồi thường tuân theo độ tuổi và điều kiện giám hộ quy định tại Điều 586 BLDS 2015. Đối với trường hợp nhiều chủ thể cùng vi phạm, áp dụng trách nhiệm liên đới theo Điều 587 BLDS 2015 (nếu không xác định được mức độ lỗi thì bồi thường theo phần bằng nhau). Tác giả dẫn chứng vụ việc ngày 13/11/2023 tại Hải Dương, 3 doanh nghiệp tại Cụm công nghiệp Cao An (Công ty TNHH Hanoi Green Foods, Công ty TNHH Bao Bì Packco Việt Nam, Công ty TNHH Hoàng Hải Nam) bị UBND tỉnh Hải Dương xử phạt tổng số tiền 1.158.000.000 đồng theo Nghị định số 45/2022/NĐ-CP do xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường.
Về chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường: Bao gồm nạn nhân trực tiếp (bị thiệt hại tính mạng, sức khỏe, tài sản) và hệ thống cơ quan quản lý nhà nước theo phân cấp tại Điều 131 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Dựa trên Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 198 BLDS năm 2015 quy định tài nguyên thiên nhiên là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Nhà nước có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với sự suy giảm môi trường tự nhiên.
Về phân loại và căn cứ xác định thiệt hại: Đối chiếu pháp luật quốc tế (Nga, Nhật Bản, Úc, Phần Lan, Canada), pháp luật Việt Nam (Điều 130 Luật Bảo vệ môi trường 2020) xác định 2 nhóm thiệt hại: thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường tự nhiên; và thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của sự suy giảm đó gây ra (dẫn chứng vụ "bom" bùn mangan của Công ty MIMECO Phúc Sơn tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang). Căn cứ xác định thiệt hại môi trường dựa trên phạm vi, diện tích; số lượng thành phần môi trường, hệ sinh thái, loài bị suy giảm (khoản 1 Điều 115 Nghị định 08/2022/NĐ-CP); và mức độ vượt quy chuẩn (dẫn chứng vụ Công ty Vedan năm 2006 xả dịch thải sau lên men có hàm lượng cyanure vượt tiêu chuẩn Việt Nam tới 5.600 lần).
Về phương pháp xác định thiệt hại môi trường: Điều 118 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định 4 phương án xác định chi phí xử lý, phục hồi môi trường:
| Phương án |
Nội dung thực hiện |
Cơ chế áp dụng |
| Phương án 1 |
Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm tự thực hiện hoặc thuê đơn vị đủ năng lực xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường và các loài sinh vật. |
Khuyến khích áp dụng để chủ động kiểm soát chi phí, rút ngắn thủ tục, có sự giám sát của cơ quan nhà nước. |
| Phương án 2 |
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện việc tính toán, xác định chi phí xử lý, phục hồi môi trường. |
Áp dụng khi bên gây ô nhiễm không tự thực hiện được; tính toán theo công thức tại Khoản 4 Điều 118 Nghị định 08/2022/NĐ-CP. |
| Phương án 3 |
Áp dụng kết quả tính toán thiệt hại của các vụ việc tương đương xảy ra trước đó hoặc mô phỏng hiện trạng ban đầu. |
Áp dụng khi không thu thập được đầy đủ dữ liệu, chứng cứ hoặc hiện trạng môi trường đã bị biến đổi. |
| Phương án 4 |
Các phương án khác theo quy định pháp luật. |
Bên vi phạm chi trả chi phí thực hiện phục hồi theo các mô hình phù hợp với tính chất vụ việc. |
Đối với thiệt hại tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tổ chức, việc tính toán áp dụng theo các Điều 589, 590, 591 BLDS 2015 và Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP.
Về tố tụng và thời hiệu khởi kiện: Điều 6 BLTTDS năm 2015 quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về người khởi kiện, tạo ra rào cản lớn cho người dân. Nhằm khắc phục, Khoản 3 Điều 131 Luật BVMT năm 2020 cho phép tổ chức, cá nhân ủy quyền cho cơ quan nhà nước, tổ chức khác yêu cầu bồi thường. Về thời hiệu khởi kiện, Điều 162 Luật BVMT năm 2020 quy định thời hiệu được tính từ thời điểm tổ chức, cá nhân bị thiệt hại phát hiện được thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của bên khác gây ra (khác biệt với mốc 03 năm kể từ ngày biết hoặc phải biết quyền bị xâm phạm theo Điều 588 BLDS 2015).
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Nội dung chương 3 khái quát tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, đánh giá thực tiễn giải quyết các vụ việc đòi bồi thường thiệt hại tại Việt Nam, chỉ ra các bất cập chính và kiến nghị giải pháp:
- Đánh giá bất cập: Khó khăn lớn trong việc chứng minh mối quan hệ nhân quả khoa học giữa chất thải ô nhiễm và bệnh tật hoặc thiệt hại tài sản phát sinh sau thời gian dài; chi phí giám định môi trường quá cao vượt quá khả năng tài chính của người dân; quy định phân chia mức độ bồi thường liên đới giữa nhiều doanh nghiệp tại các khu công nghiệp còn thiếu tiêu chí định lượng cụ thể; cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền khi sự cố môi trường xảy ra liên tỉnh còn lúng túng.
- Các giải pháp pháp lý đề xuất: Hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật và quy trình giám định tư pháp về môi trường; cụ thể hóa hướng dẫn thi hành công thức tính toán chi phí phục hồi môi trường theo Nghị định số 08/2022/NĐ-CP; thiết lập quỹ hỗ trợ pháp lý và tài chính cho các nạn nhân ô nhiễm môi trường trong quá trình thu thập chứng cứ; đẩy mạnh cơ chế đại diện khởi kiện của các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cộng đồng dân cư.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và làm rõ hệ thống quy chuẩn, số liệu và cơ sở pháp lý liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường:
- Hệ thống hóa các số liệu thực trạng áp lực ô nhiễm công nghiệp (hơn 20.000 doanh nghiệp, 130 khu công nghiệp/khu chế xuất, 15 triệu tấn rác thải/năm với 17% rác công nghiệp, 130.000 tấn chất thải nguy hại) và các vụ việc điển hình có số liệu xử phạt (vụ phạt 1,158 tỷ đồng đối với 3 công ty tại Hải Dương năm 2023; số liệu vượt ngưỡng 5.600 lần cyanure của Vedan năm 2006).
- Làm rõ cấu trúc phân cấp 4 cấp thẩm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường của cơ quan nhà nước theo Điều 131 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (UBND cấp xã; UBND cấp huyện đối với thiệt hại từ 02 xã trở lên; UBND cấp tỉnh đối với thiệt hại từ 02 huyện trở lên; Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với thiệt hại từ 02 tỉnh trở lên).
- Phân tích chi tiết 4 phương án xác định mức độ và chi phí thiệt hại môi trường quy định tại Điều 118 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, đặc biệt là tính mới của Phương án 3 (sử dụng phương pháp mô phỏng hoặc áp dụng kết quả vụ việc tương đương).
Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự nêu:
- Ý nghĩa lý luận: Góp phần hệ thống hóa, bổ sung và làm rõ lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường và lý luận về pháp luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực dân sự - môi trường.
- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp giá trị tham khảo cho các cơ quan lập pháp, cơ quan thi hành pháp luật trong quá trình nghiên cứu, xây dựng chính sách, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và giải quyết các vụ việc đòi bồi thường thiệt hại môi trường trên thực tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tập trung nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong giới hạn thời gian từ năm 2016 đến năm 2022 trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Do nguồn dữ liệu thực tế về các vụ án bồi thường thiệt hại môi trường được xét xử tại Tòa án còn hạn chế và nhiều vụ việc được giải quyết thông qua cơ chế thỏa thuận hỗ trợ ngoài tố tụng, nghiên cứu chủ yếu dựa trên các vụ việc vi phạm lớn có báo cáo công khai (như Formosa, Vedan, MIMECO, các vụ xử phạt hành chính tại Hải Dương).
Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài là tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng toàn diện các quy định mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (có hiệu lực từ 01/01/2022) và Nghị định số 08/2022/NĐ-CP trong giai đoạn thi hành dài hạn, đặc biệt là hiệu quả của cơ chế ủy quyền khởi kiện và công thức tính toán thiệt hại thực tế tại Tòa án.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho sinh viên, học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Môi trường, Luật Kinh tế; cán bộ pháp chế tại các doanh nghiệp sản xuất; công chức quản lý nhà nước tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường; và các thẩm phán, luật sư tham gia tố tụng giải quyết án dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm:
- Luận giải nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường không phụ thuộc vào yếu tố lỗi theo Điều 602 BLDS năm 2015.
- Cơ chế phân cấp thẩm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường của 4 cấp quản lý hành chính tại Điều 131 Luật BVMT năm 2020.
- Bảng so sánh và phân tích 4 phương án tính toán chi phí phục hồi môi trường theo Điều 118 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP.
- Quy định về thời hiệu khởi kiện đặc thù tính từ thời điểm phát hiện thiệt hại theo Điều 162 Luật BVMT năm 2020 so với Điều 588 BLDS năm 2015.
Câu hỏi thường gặp
1. Chủ thể gây ô nhiễm môi trường có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi không có lỗi hay không?
Có. Theo quy định tại Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015 (kế thừa Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2005), chủ thể làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trong trường hợp chủ thể đó không có lỗi. Đây là quy định ngoại lệ đối với nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị xâm phạm và môi sinh.
2. Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định những phương án nào để xác định chi phí xử lý, phục hồi môi trường bị suy giảm?
Theo Điều 118 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, có 4 phương án:
- Phương án 1: Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm tự thực hiện hoặc thuê đơn vị đủ năng lực xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường và các loài sinh vật dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước.
- Phương án 2: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện việc tính toán, xác định chi phí xử lý, phục hồi theo công thức quy định tại Khoản 4 Điều 118.
- Phương án 3: Áp dụng kết quả tính toán thiệt hại của các vụ việc tương đương xảy ra trước đó hoặc mô phỏng hiện trạng ban đầu khi chưa bị ô nhiễm, suy thoái.
- Phương án 4: Các phương án khác mà bên vi phạm chi trả chi phí để thực hiện xử lý, phục hồi môi trường theo quy định.
3. Thẩm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với môi trường tự nhiên được phân cấp cho những cơ quan nào?
Theo Khoản 2 Điều 131 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trách nhiệm yêu cầu bồi thường và thu thập, thẩm định dữ liệu chứng cứ thiệt hại môi trường được phân cấp như sau:
- UBND cấp xã: Đối với thiệt hại trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình (đề nghị UBND cấp huyện hỗ trợ thu thập dữ liệu).
- UBND cấp huyện: Đối với thiệt hại trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên.
- UBND cấp tỉnh: Đối với thiệt hại trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp huyện trở lên.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chủ trì, phối hợp với UBND cấp tỉnh đối với thiệt hại xảy ra trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên.
4. Thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường được tính từ thời điểm nào?
Theo Điều 162 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, thời hiệu khởi kiện về môi trường được tính từ thời điểm tổ chức, cá nhân bị thiệt hại phát hiện được thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về môi trường của tổ chức, cá nhân khác gây ra. Quy định này có sự phân biệt với mốc thời hiệu 03 năm kể từ ngày biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo Điều 588 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Người dân bị thiệt hại do ô nhiễm môi trường gặp phải rào cản gì khi thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo Luật Tố tụng Dân sự?
Theo Khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, người khởi kiện có nghĩa vụ thu thập và giao nộp chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình. Tuy nhiên, người dân (thường là nông dân, ngư dân) gặp rào cản lớn do không đủ năng lực tài chính và chuyên môn kỹ thuật để quan trắc, giám định hóa chất độc hại, xác định phạm vi lan truyền chất ô nhiễm và chứng minh mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi xả thải của doanh nghiệp với thiệt hại sức khỏe, tài sản vốn có thể phát sinh sau một thời gian dài.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Ngô Thị Thúy Hằng là công trình nghiên cứu hệ thống về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường dưới góc độ Luật Dân sự và Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam. Tác giả đã làm rõ các cơ sở lý luận, nguyên tắc quốc tế, cấu thành bồi thường không phụ thuộc vào yếu tố lỗi và phân tích chi tiết các quy định pháp luật thực định về căn cứ, phương pháp xác định thiệt hại và phân cấp thẩm quyền khởi kiện. Công trình cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác lập pháp, nghiên cứu khoa học pháp lý và áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp môi trường tại Việt Nam.