PHẦN MỞ ĐẦU ------- Ar te O s@ s6 ————- 1. Lý do chon dé tài: Hội nghị lắn thứ tư Ban chấp hành TW Đảng khóa VII đã khẳng định: "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng dau, là động lực thúc đẩy, là điểu kiện cơ bản đảm bảo thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hôi, xây đựng và bảo vệ đất nước”. Trong sự nghiệp giáo dục và đào tao, nhà trường phổ thông là môi trường lý tưởng để nghiên cứu và đổi mới giáo dục sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Hiện nay, phương pháp dạy học ở nước ta ở trong tình trạng lạc hậu rất xa so với các nước phát triển và trong khu vực.
Đổi mới phương pháp giáo dục là yêu cầu cấp bách của thời đại. Mục đích của giáo dục ngày nay không chỉ đừng lại ở việc truyền thụ cho học sinh những kiến thức, những kinh nghiệm mà loài người đã tích lũy trước đây mà còn phải bổi dưỡng cho họ những năng lực sáng tao ra những kiến thức mới, phương tiện mới, cách giải quyết mới trước đó chưa có. Mat khác, nhịp độ phát triển của khoa học kỹ thuật rất nhanh, lượng thông tin kiến thức khoa học và xã hội ngày càng nhiều, cho nên ta không thể cứ dạy mãi những kiến thức cổ điển (cho dù có bổ sung những kiến thức hiện đại) vẫn không theo kịp đà phát triển. Thời gian ngắn ngủi 12 năm ở trường phổ thông chỉ đủ trang bị cho học sinh một phan nào đó rất cơ bản.
Sau này, trong cuộc sống, đi vào từng lĩnh vực hoạt động cụ thể, họ còn phải biết cách tiếp tục học thêm nhiều mới đáp ứng được yêu cẩu chuyên môn của thời đại lúc bấy giờ. Khi đó, người lao động cần có khả năng tự định hướng và tự học để thích ứng với đòi hỏi mới của xã hội. Vì vậy cho nên sự nghiệp đổi mới giáo dục ở nước ta nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng cẩn được xem xét trên cơ sở nghiên cứu hoạt động của bản thân người học. Điều đó phụ thuộc vào ba vấn để liên quan chat chẽ với nhau là vấn dé tự học của học sinh, vấn để phương pháp giảng dạy của giáo viên và không kém phân quan trọng là vấn để cấu trúc chương trình sách giáo khoa.
Do đó, nội dung dạy học hay chương trình là một trong ba khâu quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới giáo dục. Nếu chương trình và nội dung giảng dạy được đầu tư, soạn thảo tốt, khoa học, hợp lý thì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp giảng day và vấn dé tự học của học sinh. Hiện nay, theo cơ chế của nhà trường Việt Nam, sách giáo khoa là chuẩn pháp lệnh, nên sách giáo khoa là một công cụ có phẩn quyết định quan trọng. Vì vậy sách phải được biên soạn đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức và kỹ năng của chương trình theo mục tiêu đào tạo.
Cụ thể là phải cập nhật kiến thức mới, tinh giản lý thuyết, tang nội dung thực hành tạo điều kiện tốt cho học sinh tự học. Chương trình sách giáo khoa sẽ tạo ra sự nhất quán và phát triển giữa các chương trình giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp dạy nghề làm cơ sở cho việc phân luồng trong hệ thống giáo duc quốc đân. Đổi mới nội dung phương pháp giảng dạy trước hết được thể hiện ở chương trình sách giáo khoa vì các hoạt động giảng dạy học tập đều xuất phát và xoay quanh nội dung đó. la ng 4 olen ' gu i 4, f2 < pre.
Rm ee einer soi Để được góp thêm ý kiến nhỏ vào việc giải quyết vấn dé trên, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Khoa Hoc NGUYEN CHÍ LONG, chúng tôi thực hiện dé tài : “TÌM HIỂU VỀ CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIAO KHOA TOÁN 11” Do kiến thức han hep, kinh nghiệm chưa có lại nhiều khó khan, thời gian gấp rút nên kết quả còn nhiều hạn chế. Kính mong quý Thây, Cô chỉ din thêm. Mục tiêu nghiên cứu : Tìm hiểu cơ cấu chương trình môn Toán lớp l1 trong mối tương quan chung trong hệ thống môn Toán cấp III và mối tương quan với các môn học khác. Từ đó đưa ra những để xuất, những kiến nghị về chương trình — giảng dạy - học tập môn Toán.
IIL Đối tượng nghiên cứu: Chương trình sách giáo khoa Toán 11 thông qua việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh ở các trường phổ thông trong thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu: Đối tượng: Học sinh cấp III và các giáo viên trực tiếp giảng dạy ở các trường phổ thông trong thành phố như trường Tenlơman, Lê Hồng Phong,Trung học thực hành, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thượng Hiển, Hùng Vương, Gò Vấp, Trưng Vương, Thủ Đức, Nguyễn Thị Minh Khai, Marie Curie, và trường Lê Quý Đôn. Khảo sát thực trạng vấn để tự học của học sinh và phương pháp giảng day của giáo viên. Đồng thời tham khảo ý kiến của Sở Giáo Dục - Đào Tạo Thành Phố Hồ Chí Minh về chương trình giáo dục trung học hiện nay.
Tim hiểu cấu trúc chương trình môn Toán lớp 11 trong mối tương quan chung trong hệ thống môn Toán cấp III và mối tương quan với các môn học khác. Từ đó đưa ra những để xuất, những kiến nghị về chương trình — giảng dạy — học tập môn Toán. Phương pháp nghiên cứu: Dùng bảng điều tra bằng các câu hỏi dành cho các đối tượng: học sinh, giáo viên, phụ huynh, các nhà quản lý giáo dục. Đồng thời nghiên cứu qua các sách báo, tài liệu, các cuộc hội thảo.
và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê. Bằng cách tham khảo các sách giáo khoa hiện hành trong và ngoài nước do giáo viên hướng dẫn cung cấp, chúng tôi đánh giá chúng và đặc biệt quan tâm đến các nhận xét của các giáo viên có thâm niên về giảng dạy Toán. Sau đó, dựa vào thực tế xem xét tình hình học tập của học sinh có được của chúng tôi qua đợt kiến tập và thực tập sư phạm cộng với kinh nghiệm giảng dạy thâm niên của giáo viên hướng dẫn đồng thời cũng tham khảo các ý kiến của tổ tâm lý của các giáo viên PTTH nhất là giáo viên dạy Toán để để xuất một số ý kiến, một số phương án về việc cải tiến đổi mới chương trình sách giáo khoa Toán nói chung và lớp 11 nói riêng cho phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng được những yêu cầu mà thực tiễn đặt ra cho môn Toán nói riêng cho nội dung chương trình sách giáo khoa phổ thông nói chung. Những nhà giáo dục lớn thời trước như J.Usinxki đã chứng minh rằng, muốn chuẩn bị tốt cho học sinh bước vào đời, nhà trường phải vũ trang cho thế hệ đang trưởng thành những kinh nghiệm đã được khái quất của loài người, tức là những wi thức của những ngành khoa học khác nhau.
Các nhà giáo dục ấy cũng đã chú ý đến những đòi hỏi của cuộc sống mà sau này học sinh sẽ gặp. Nhưng vấn để không phải ở chỗ đó. Usinxki đã chứng minh rằng đối với sự phát triển có kết quả trí tuệ của học sinh, việc nghiên cứu những wi thức khoa học có hệ thống vừa sức học sinh: giữ một vai trò quan trọng. Toàn bộ vấn để quy lại là, muốn cải biến tài liệu giảng dạy ở nhà trường cho hợp với mục đích sư phạm thì tri thức đưa ra phải vừa sức các em và phải mở ra những chân trời mới cho trẻ độc lập suy nghĩ.
Trong quá trình day học trẻ em không những nắm được tri thức khoa học mà còn chuẩn bị để sau này tìm tòi những chân lý mới, để phát triển và làm giàu thêm khoa học và đồng thời ứng dụng các tài liệu khoa học vào đời sống. Việc nấm các hệ thống tri thức ấy là phương châm chủ yếu của quá trình dạy học. Nếu chỉ có kinh nghiệm trẻ em và sự phân tích tâm lý kinh nghiệm đó cũng như chỉ có những cố gắng vạch ra bức tranh phát triển ý thức con người thôi thì không có khả năng củng cố con đường vận động của quá trình học tập từ chỗ không biết đến chỗ biết, từ những tri thức không chính xác và không đầy đủ tới những tri thức chính xác hơn và đẩy đủ hơn. Con đường đó nhằm lĩnh hội các tri thức khoa học về phương diện phát triển logic của chúng.
Hệ thống các tri thức khoa học, kỹ năng và kỹ xảo tạo thành nội dung môn Khi nội dung của môn học và logic của nó được xây dưng có tính đến những yêu cầu về tính khoa học và đồng thời về tính vừa sức thì sẽ có khả năng khách quan tổ chức đúng đắn việc day học, trong đó bảo đảm được hoạt động nhận thức tích cực của học sinh đối với tài liệu học tập và việc giải đáp những vấn để có tính chất lý thuyết và thực tiễn. Vì thế mà nội dung chương trình luôn phải thay đổi theo tâm sinh lý lứa tuổi của các em cũng như yêu cầu của xã hội đặt ra cho lứa tuổi ấy. Đây chính là chuẩn kiến thức được xác định cho chương trình một cấp học hay là một lớp học. KH Sự cần thiết phai đổi mới phương pháp dạy học: Từ cách mạng tháng Tám năm 1945 nước VNDCCH ra đời, đến nay nước ta đã trải qua bao thăng trim lịch sử.
Hoàn cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục cũng đòi hỏi phải canh tân, đổi mới cho phù hợp với đất nước. Hệ thống giáo dục nói riêng cũng cần xác định lại mục đích , thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung và phương pháp giáo dục đào tạo nhằm hướng tới việc đào tạo ra những con người lao động tự chủ, sáng tạo, có năng lực thích ứng với yêu cầu xã hội. Muốn vậy thì hệ thống giáo dục đào tạo phải hướng tới việc khơi dậy. rèn luyện và phát triển khả năng suy nghĩ, sáng tạo và hình thành quan điểm đạo đức ngay trong quá trình học tập ở trường phổ thông.
Nhất là trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế của nước ta mở cửa, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ phát triển mạnh, nguồn trí thức mới, thông tin mới tăng lên rất nhiều nên việc đổi mới phương pháp giáo dục trở thành cần thiết hơn bao giờ hết.ohcảNdsuAịpqy,ếọtg4ựncTihbWữậĐCăpệSmVư.lvơNàKếgtihdruợáêõyn:"scĐốứổokọmaớụ,vphiăưệơàgnlđắựạcọáảểtbdqậồrupiyờếvhàưgỡlnấớaởo Cuộc Cách mang tháng Tám thành công, 2-9-1945 nước Việt Nam Dân chủ công hòa ra đời mở ra một kỷ nguyên mới của đất nước.