CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NHÀ HÀNG THUỘC KHÁCH SẠN LIBERTY SAIGON GREENVIEW 1.1 Những khái niệm cơ bản về nhân lực 1.1 Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Một cách tổng quát chúng ta có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. Theo Giáo Sư Phạm Minh Hạc – Bộ trưởng Bộ giáo dục Việt Nam cho rằng nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một đất nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. Như vậy tùy theo từng cách tiếp cận mà khái niệm nguồn nhân lực có thể khác nhau nên quy mô nguồn nhân lực cũng khách nhau.
Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con người và giới hạn tuổi lao động: nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, của toàn bộ những người có cơ thể phát triển bình thường, những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không. Với cách tiếp cận dựa vào trạng thái hoạt động kinh tế của con người: nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những người đang hoạt động trong các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội. Một số hệ thống các quan điểm về nguồn nhân lực được thể hiện như sau: Quản trị theo khoa học (Frederich Taylor) CON NGƯỜI LÀ NGUỒN LỰC – SỬ DỤNG ĐÚNG NGƯỜI ĐÚNG VIỆC (năm 1910). Quan hệ con người (Elton Mayo) CHÌA KHÓA CHO THÀNH CÔNG QUAN HỆ TỐT VỚI CON NGƯỜI (năm 1930).
Con người – nguồn lực cốt lõi của tổ chức (Waren Benis) TIN TƯỞNG VÀO TIỀM NĂNG CỦA CON NGƯỜI (thế kỷ 21). Những khái niệm, quan điểm trên dù xuất phát từ khía cạnh nào cũng có những điểm tương đồng nhất định. Từ đó, trong phạm vi Khóa luận này có thể hiểu nguồn nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả 1 những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.2 Khái niệm nhân lực Đội ngũ nhân lực luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo nên thương hiệu và chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường. Khái niệm nhân lực được tiếp cận theo nhiều quan điểm khác nhau.
Có quan điểm cho rằng: nhân lực là những người đang tham gia hoạt động trực tiếp trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước. Một ý kiến khác lại cho rằng nhân lực là thể lực và trí lực của người lao động. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc và tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi. Trí lực nói đến suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách của từng con người.
Từ điển bách khoa Việt Nam lại định nghĩa nhân lực là sức người, nói về mặt dùng trong lao động sản xuất. Nói tóm lại, tất cả những cách tiếp cận trên đều có cơ sở và đều có những điểm tương đồng nhất định. Theo đó, trong phạm vi nghiên cứu Khóa luận này, khái niệm nhân lực được hiểu là người lao động đang làm việc trực tiếp tại doanh nghiệp.2 Chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực 1.1 Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm này chú trọng vấn đề đảm bảo có đủ số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp và gồm các hoạt động như: Hoạch định nhu cầu nhân viên, phân tích công việc, tuyển dụng nhân viên. Để có thể tuyển được đúng người cho đúng việc trước hết doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh và thực trạng sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp nhằm xác định được những công việc, vị trí nào cần tuyển thêm người.
Thực hiện phân tích công việc sẽ cho biết doanh nghiệp cần tuyển thêm bao nhiêu nhân viên và yêu cầu tiêu chuẩn đặt đối với các ứng viên là như thế nào. Việc áp dụng những kỹ năng tuyển dụng như trắc nghiệm và phỏng vấn sẽ giúp doanh nghiệp chọn được ứng cử viên tốt nhất cho công việc. Do đó, nhóm chức năng tuyển dụng thường có các hoạt động: dự báo và hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc, phỏng vấn, 2 trắc nghiệm, thu thập, lưu giữ và xử lý các thông tin về nguồn nhân lực của doanh nghiệp.2 Nhóm chức năng duy trì nguồn lực Nhóm này chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nhóm này gồm hai chức năng nhỏ hơn là kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp.
Chức năng kích thích, động viên liên quan đến các chính sách và các hoạt động nhằm khuyến khích, động viên nhân viên trong các doanh nghiệp làm việc hăng say, tận tình, có ý thức trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng cao. Do đó, xây dựng và quản lý hệ thống bảng lương, thiết lập và áp dụng các chính sách lương bổng, thăng tiến, kỷ luật, tiền thưởng, phúc lợi, phụ cấp, đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên là những hoạt động quan trọng nhất của chức năng kích thích, động viên. Chức năng quan hệ lao động liên quan đến các hoạt động nhằm hoàn thiện môi trường làm việc và các mối quan hệ trong công việc như: ký kết hợp đồng lao động, giải quyết khiếu nại, tranh chấp lao động, giao tiếp nhân viên, cải thiện môi trường làm việc, y tế, bảo hiểm và an toàn lao động.3 Nhóm chức năng đào tạo – phát triển của quản trị nguồn nhân lực Là một nhóm chức năng rất quan trọng, đào tạo – phát triển nguồn nhân lực tập trung vào việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đa các năng lực cá nhân. Thường thực hiện các hoạt động như: hướng nghiệp, huấn luyện, đào tạo kỹ năng thực hành cho công nhân; bồi dưỡng nâng cao trình độ lành nghề và cập nhật kiến thức - phương pháp quản lý mới, kỹ thuật công nghệ mới cho cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ.
Giải quyết tốt những chức năng quan hệ lao động sẽ vừa giúp các doanh nghiệp tạo ra bầu không khí tập thể và các giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa làm cho nhân viên được thỏa mãn với công việc và doanh nghiệp.3 Mục đích và vai trò của đào tạo Giáo dục, đào tạo và phát triển của người lao động có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia và khả năng cạnh tranh quốc tế của 3 các doanh nghiệp. Nhu cầu đào tạo và phát triển nhân viên trong các tổ chức tăng nhanh cùng với sự phát triển của hợp tác và cạnh tranh quốc tế, công nghệ tiên tiến và những áp lực về kinh tế xã hội. Đào tạo được coi là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược của tổ chức. Giờ đây, chất lượng nhân viên đã trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệp trên toàn thế giới.
Ở Việt Nam nơi trình độ văn hóa, giáo dục chung của người lao động còn tương đối thấp, nhu cầu đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề cho người lao động càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn nữa. Theo số liệu từ Ban Quản Lý Kinh Tế Quảng Trị (07/12/2020), về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghề nghiệp, có khoảng 70% tổng số công nhân Việt Nam có trình độ trung học phổ thông, 27% có trình độ trung học cơ sở và 3% có trình độ tiểu học. Công nhân có trình độ trung cấp chiếm 18%, trình độ cao đẳng chiếm 7%, trình độ đại học chiếm 17%; công nhân được đào tạo, đào tạo lại tại doanh nghiệp chiếm 48%. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới về chất lượng lao động được tính theo thang điểm 10, thì chất lượng lao động Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB.
Trong khi đó, Hàn Quốc đạt 6,91 điểm, Ấn Độ là 5,76 điểm, Malaysia là 5,59 điểm, Thái Lan 4,94 điểm. Còn theo kết quả khảo sát của Tổ chức Lao động quốc tế, năng suất lao động của công nhân Việt Nam thuộc vào nhóm thấp nhất của khu vực, chỉ bằng 1/5 Malaysia, 2/5 Thái Lan, 1/15 Singapore, 1/11 Nhật Bản, 1/10 Hàn Quốc. Trong số các nước ASEAN, năng suất lao động của công nhân Việt Nam chỉ cao hơn Campuchia và Lào. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với tốc độ tăng năng suất lao động như hiện nay, thì phải đến năm 2038 năng suất lao động của công nhân Việt Nam mới bắt kịp Philippines, năm 2069 chúng ta mới bắt kịp được Thái Lan, do đó, chúng ta cần có đối sách để nâng cao chất lượng nhân lực, góp phần nâng cao năng suất lao động trong quá trình cạnh tranh thời hội nhập.
Trong các tổ chức, vấn đề đào tạo và phát triển được áp dụng nhằm: Trực tiếp giúp nhân viên thực hiện công việc tốt hơn, đặc biệt khi nhân viên thực hiện công việc không đáp ứng được các tiêu chuẩn mẫu, hoặc khi nhân viên nhận công việc mới. Cập nhập các kỹ năng, kiến thức mới cho nhân viên, giúp họ có thể áp dụng thành công các thay đổi công nghệ, kỹ thuật trong doanh nghiệp. 4 Tránh tình trạng quản lý lỗi thời. Các nhà quản trị cần áp dụng các phương pháp quản lý sao cho phù hợp được với những thay đổi về quy trình công nghệ, kỹ thuật và môi trường kinh doanh.
Giải quyết các vấn đề tổ chức. Đào tạo và phát triển có thể giúp các nhà quản trị giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân và giữa công đoàn với các nhà quản trị. Hướng dẫn công việc cho nhân viên mới.