MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Có thể nói, du lịch đƣợc coi là một trong những ngành kinh tế tổng hợp đang phát triển nhất hiện nay. Nhiều nƣớc đã coi du lịch là ngành kinh tế trọng điểm, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, tăng thu ngoại tệ cao, tạo nhiều công ăn việc làm và nâng cao mức sống cho ngƣời dân. Việt Nam là một trong những nƣớc có nền kinh tế đang phát triển, vì thế việc đầu tƣ phát triển du lịch chính là một trong những giải pháp hữu hiệu đƣa nền kinh tế Việt Nam tăng trƣởng, đồng thời giúp Việt Nam có nhiều điều kiện giao lƣu, hội nhập quốc tế.
Với ƣu thế nổi bật về vị trí là nằm ở gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á - khu vực có nền kinh tế phát triển năng động, có sự hợp tác về nhiều mặt giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; Việt Nam cũng là nƣớc có nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn đa dạng, phong phú; lại đƣợc coi là điểm đến an toàn, thân thiện của khách du lịch quốc tế. Với những điều kiện thuận lợi đó, trong những năm qua, du lịch Việt Nam cũng đã đạt đƣợc những thành tự đáng kể. Tính tổng lƣợng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2014 đạt 7,8 triệu lƣợt, khách du lịch nội địa đạt 38,5 triệu lƣợt, tổng doanh thu toàn ngành 230 nghìn tý. Năm 2015 chứng kiến nhiều thay đổi trong toàn ngành du lịch Việt Nam, điều này thể hiện ở kết quả đạt đƣợc của năm.
Tổng lƣợng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2015 đạt gần 8 triệu lƣợt, khách du lịch nội địa khoảng 57 triệu lƣợt, tổng doanh thu của toàn ngành đạt khoảng 337,8 nghìn tỷ. Tuy những thành tựu đạt đƣợc của ngành là khá lớn nhƣng nó vẫn chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của Việt Nam. Nếu so sánh với các quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực nhƣ Thái Lan, Singapore thì còn khá khiêm tốn. Sự khiêm tốn đó có thể một phần do chúng ta chƣa xác định đƣợc những yếu tố thúc đẩy khách du lịch 1 quốc tế đến Việt Nam và chƣa có đƣợc những giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút lƣợng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Với mong muốn đƣợc nhiều hơn nữa khách du lịch trên toàn thế giới biết đến và lựa chọn Việt Nam trở thành điểm đến trong tƣơng lai của họ, từ đó góp phần thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển tƣơng xứng với tiềm năng du lịch của đất nƣớc, tác giả xin lựa chọn đề tài: “Thu hút khách du lịch quốc tế: Nghiên cứu cho trƣờng hợp của Việt Nam” trong khóa luận tốt nghiệp thạc sĩ của mình. Mục đích nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng, xác định các yếu tố thúc đẩy khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, từ đó đƣa ra một số khuyến nghị về chính sách thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam nhiều hơn nữa trong thời gian tới. Cụ thể, luận văn giải quyết những vấn đề sau: - Nêu khái quát hệ thống lý luận về khách du lịch quốc tế và vấn đề thu hút khách du lịch quốc tế. - Phân tích thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
- Xác định những nhân tố tác động đến thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam những năm gần đây thông qua mô hình kinh tế lƣợng. - Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam những năm tới. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: Giai đoạn 2010 - 2015 4.
Phƣơng pháp nghiên cứu Để đảm bảo tính học thuật (academic) và độc sáng (originality), luận văn đã sử dụng phƣơng pháp phân tích định tính (qualitative analysis), phân 2 tích định lƣợng (quantitative analysis), mô tả (trend analysis), thực nghiệm (empirical study). Kết cấu nội dung của luận văn Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát chung về thu hút khách du lịch quốc tế Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam những năm gần đây Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam 3 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm du lịch Cùng với sự phát triển của du lịch, khái niệm về du lịch đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo góc độ xem xét khác nhau.Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đƣa ra định nghĩa: Du lịch là tổng hợp những và các hiện tƣợng, các mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con ngƣời tại nơi không phải là nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ, hơn nữa họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến.
Theo nhà kinh tế Kalfiotis, du lịch là sự di chuyển của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên hoạt động kinh tế. Theo quan điểm của Robert W.R Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch. Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới: Du lịch đƣợc hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cƣ trú thuờng xuyên của họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ.
Luật du lịch Việt Nam (đƣợc Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, khoá XI năm 2005) đã giải thích về thuật ngữ du lịch nhƣ sau: 4 Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Khái niệm khách du lịch và khách du lịch quốc tế Theo Tổ chức du lịch Thế giới, khách du lịch là những ngƣời có các đặc trƣng sau: - Là ngƣời đi khỏi nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình; - Không theo đuổi mục đích kinh tế; - Đi khỏi nơi cƣ trú từ 24 giờ trở lên; - Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến tuỳ quan niệm của từng nƣớc. Tại các nƣớc đều có các định nghĩa riêng về khách du lịch. Tuy nhiên, điểm chung nhất đối với các nƣớc trong cách hiểu khái niệm về khách du lịch là: Khách du lịch là những ngƣời rời khỏi nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lƣu lại ở nơi đến từ 24 giờ trở lên (hoặc có sử dụng lịch vụ lƣu trú qua đêm) nhƣng không quá thời gian một năm.
Khách du lịch là những ngƣời tạm thời ở tại nơi họ đến du lịch với các mục đích nhƣ nghỉ ngơi, kinh doanh, hội nghị hoặc thăm gia đình. Theo Luật Du lịch Việt Nam, thuật ngữ khách du lịch đƣợc giải thích: Khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch đƣợc phân chia thành hai nhóm cơ bản: Khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. Khách du lịch quốc tế (International tourist) 5 Năm 1937, Uỷ ban thống kê của Hội Quốc liên (tiền thân của Liên Hợp Quốc ngày nay) đã đƣa ra khái niệm về khách du lịch quốc tế nhƣ sau: Khách du lịch quốc tế là những ngƣời thăm viếng một quốc gia ngoài quốc gia cƣ trú thƣờng xuyên của mình trong thời gian ít nhất là 24 giờ.
Theo khái niệm nêu trên, xét về mặt thời gian, khách du lịch quốc tế là những ngƣời có thời gian viếng thăm (lƣu lại) ở quốc gia khác ít nhất là 24 giờ. Trên thực tế, những ngƣời đến một quốc gia khác có lƣu trú qua đêm mặc dù chƣa đủ thời gian 24 giờ vẫn đƣợc thống kê là khách du lịch quốc tế. Khoản 3 (Điều 34, chƣơng 1) của Luật Du lịch Việt Nam 2005 quy định: Khách du lịch quốc tế là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài thƣờng trú tại Việt Nam ra nƣớc ngoài du lịch. Nhƣ vậy, nhóm khách du lịch quốc tế đƣợc phân thành 2 loại: Khách du lịch quốc tế đi vào (Inbound tourist): là ngƣời nƣớc ngoài và ngƣời của một quốc gia nào đó định cƣ ở nƣớc khác vào quốc gia đó đi du lịch.
Loại khách này sử dụng ngoại tệ để mua hàng hoá dịch vụ. Khách du lịch quốc tế đi ra (Outbound tourist): Là công dân của một quốc gia và ngƣời nƣớc ngoài đang cƣ trú tại quốc gia đó đi ra nƣớc ngoài du lịch. Khái niệm về hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế Từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về tình hình và thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến một địa phƣơng trên thế giới và ở Việt Nam nói riêng, tuy nhiên, hầu hết ở các nghiên cứu này, khái niệm “hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế” ít khi đƣợc đƣa một cách hoàn chỉnh mà đƣợc biểu hiện dƣới dạng liệt kê các hoạt động nhằm mục đích thu hút khách du lịch quốc tế. Giải nghĩa cụm từ “hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế” trên mặt ngữ nghĩa văn học, ta có “hoạt động” là những việc làm khác nhau với mục 6 đích nhất định trong đời sống xã hội; “thu hút” đƣợc giải nghĩa là “làm cho ngƣời ta ham thích mà dồn hết mọi chú ý vào” (Trung tâm Ngôn ngữ và Văn học Việt Nam, 1998).
Nhƣ vậy, “hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế” có thể hiểu là những việc làm khác nhau nhằm mục đích thu hút, kéo dồn sự chú ý của khách du lịch quốc tế. Hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế của một địa phƣơng là tổng hợp các hoạt động nhằm thu hút ngày càng nhiều lƣợng khách du lịch quốc tế từ nƣớc ngoài đến du lịch tại địa phƣơng mình.