Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu 11 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng về tác động của chính sách tiền tệ đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về NHTM 2. NHTM và vai trò của NHTM trong nền kinh tế Trong suốt quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá, ngân hàng luôn là hệ thống chủ chốt đảm bảo các nhu cầu và dịch vụ cần thiết giúp nền kinh tế phát triển.
Do đó từ những hệ thống ngân hàng đơn giản nay trở nên lớn mạnh và phát triển thành những tập đoàn tài chính lớn.Ngân hàng thương mại là định chế tài chính,có nguồn vốn chủ yếu là tiền gửi từ công chúng và sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay và đầu tư đồng thời cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác.Từ “thương mại” có nghĩa là hầu hết các ngân hàng thương mại dành phần lớn nguồn lực của họ để đáp ứng nhu cầu tài chính của doanh nghiệp.Tuy nhiên trong những năm gần đây ngân hàng thương mại còn chào bán các dịch vụ tài chính tới người tiêu dùng và các cơ quan chính phủ.Hơn nữa,nhiều tập đoàn hay công ty sở hữu ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ tài chính khác như tư vấn đầu tư,bảo lãnh phát hành chứng khoán,bảo hiểm,lập kế hoạch tài chính,.Do đó ngân hàng thương mại có thé đáp ứng bao quát nhất các nhu cầu về dịch vụ tài chính trong nền kinh tế toàn cầu. Có thể nói,ngân hàng thương mại có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế.Họ nắm giữ tỷ lệ tổng tài sản lớn của hầu hết tất cả các định chế tài chính ở các quốc gia.Các ngân hàng còn là phương tiện chủ yếu để thực hiện thanh toán,cung cấp khoản tín dụng,tham gia thị trường trái phiếu,tín phiếu. Ngoài ra họ còn là nguồn tạo ra tín dụng tiêu dùng quan trọng nhất,cung cấp vốn lưu động, vốn trung hạn, dài hạn cho các doanh nghiệp,là những người mua chủ yếu các chứng khoán nợ do chính phủ phát hành. Với vai trò thanh toán, NHTM đại diện cho khách hàng thanh toán việc mua hàng hoá, dịch vụ bằng cách phát hành, bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử.
Với vai trò bảo lãnh, NHTM cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán. Với vai tro đại lý, NHTM thay khách hàng quản lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán,. 13 Với vai trò thực hiện chính sách, NHTM còn là một nơi quan trọng để truyền tải tác động của chính sách tiền tệ, chính sách vĩ mô của chính phủ, góp phần điều tiết tăng trưởng kinh tế và các mục tiêu xã hội. Các hoạt động cơ bản của NHTM Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính chuyên nghiệp nhằm tạo lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho công chúng và thực hiện các vai trò khác nhau trong nền kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thành công hay không còn phụ thuộc vào khả năng cung cấp các dịch vụ cho công chúng theo giá cạnh tranh trên thị trường. Ngân hàng thương mại có các hoạt động kinh doanh cơ bản như sau: Chức năng luân chuyển tài sản Chức năng cung cấp dịch vụ Hoạt động huy động Hoạt động sử dung - Dịch vụ thanh toán và von vôn ngân quỹ. - Bảo lãnh - Kinh doanh ngoại tệ - Vốn chủ sở hữu - Hoạt động tín dụng - Uy thác, đại lý eee nước - Kinh doanh chứng - Tiên gửi tiêt kiệm - Hoạt động đầu tư ns khoan. - Tiền gửi giao dich - Phat hành C.
Khoán - Vay các NH khác - Hoạt động khác Trong các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM thì có hai chức năng chính: 14 a. Chức năng luân chuyển tài sản:Chức năng này của ngân hàng thương mai sẽ thực hiện hoạt động sau * Hoạt động huy động vốn:là hoạt động mang tính chất tạo nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng. Để đảm bảo nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh, các NHTM thực hiện huy động vốn từ Vốn chủ sở hữu: đây là vốn khởi đầu và bổ sung trong quá trình hoạt động. Tuy vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng không nhiều nhưng thường sẽ có khoảng 10% tổng số vốn nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng trong ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu giúp các ngân hàng mở rộng mạng lưới kinh doanh, quy mô huy động, mua các tài sản cố định, góp vốn liên doanh, cấp vốn cho các tổng ty con và các hoạt động kinh doanh khác.Trong quá trình phòng vệ,nó cũng sẽ giúp giảm bớt rủi ro của ngân hàng,là đệm bảo vệ ngân hàng trước nguy cơ phá sản.Nguồn vốn chủ sở hữu có vốn điều lệ,lợi nhuận giữ lại và các quỹ ngân hàng sẽ hình thành trong quá trình kinh doanh và các tài sản theo quy định của nhà nước. Tiền gửi tiết kiệm và giao dịch: tiền gửi tiết kiệm chủ yếu là của dân cư chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng vốn huy động của ngân hàng thương mại. Không chỉ thế còn có các khoản tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và tổ chức xã hội, các khoản tiền gửi là khoản đã đang phải trả các xác định thời gian hoặc các khoản tích luỹ của doạnh nghiệp. Bên cạnh đó,NHTM còn huy động các khoản tiền gửi không kỳ hạn, là khoản tiền mà doanh nghiệp và người dân có thể rút bất kỳ khi nào.Nó bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi nhằm đảm bảo an toàn tài sản của khách hàng.
Phát hành chứng khoán: thông qua thị trường tài chính, giờ đây các ngân hàng thương mại có thể huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu, các giấy tờ khác có nhiều loại kỳ hạn, lãi suất khác nhau nhằm đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và đáp ứng các nhu cầu nắm giữ các tài sản khác nhau của khách hàng, khi đó ngân hàng thương mại sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường. Vay từ ngân hàng thương mại khác: trong quá trình hoạt động kinh doanh nếu các ngân hàng nhận thấy nhu cầu vay vốn của khách hàng có tăng mạnh hoặc ngân quỹ 15 bị thiếu hụt do có nhiều dòng tiền cần sử dụng thì khi đó các ngân hàng thương mại có thể vay nợ tại các ngân hàng khác như NHNN qua hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các loại tài sản và giấy tờ có giá, các hợp đồng tín dụng đã cung cấp cho khách hàng, hoặc vay một số tổ chức tài chính trên thị trường nhằm bổ sung tạm thời khi thiếu hụt về vốn. e Vay từ Ngân hàng Trung ương: Loại khoản vay này còn được gọi là vay từ cửa sổ chiết khấu. Nếu một ngân hàng vay quá thường xuyên tại cửa sổ chiết khấu thì nó chứng tỏ là bị thiếu quỹ lâu dài chứ không phải là tạm thời, và do đó có thể bị ngân hàng trung ương từ chối cấp khoản vay.
Vì thế các ngân hàng thường thích vay trên thị trường liên ngân hàng, mặc dù lãi suất ở đây biến động hơn so với lãi suất chiết khấu. * Hoạt động sử dụng vốn: đây là chức năng trong hoạt động luân chuyển tài sản của các ngân hàng thương mại là thực hiện hoạt động tín dụng và đầu tư. Đó là hoạt động dem lại nguồn thu cho ngân hàng và bù các chỉ phí hoạt động. Hoạt động tín dụng: đây là một trong những hoạt động cơ bản, truyền thống và đóng góp vai trò quan trọng nhất trong các hoạt động nhằm tạo ra phần thu nhập lớn của ngân hàng thương mại.
Dù đó là hoạt động chủ yếu mang lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM, nhằm quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng nhưng nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro (như rủi ro tín dụng,rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro chính trị, rủi ro đạo đức) khi rủi ro này xảy ra sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế. Hoạt động đầu tư: nhằm đa dạng hoá sử dụng vốn, tăng lợi nhuận, đề phòng rủi ro thanh khoản thì các ngân hàng thương mại còn thực hiện các khoản đầu tư như: hoạt động đầu tư gián tiếp(chính là đầu tư trên thị trường chứng khoán thông mua việc mua bán chứng khoán do chính phủ, công ty phát hành), các hoạt động trực tiếp(góp vốn doanh nghiệp, công ty tài chính) b. Chức năng cung cấp dịch vụ Để đa dạng hoá các hoạt động của ngân hàng,đa dạng hoá nguồn thu và phát triển cùng với nền kinh tế, thì các hoạt động cung cấp dịch vụ mang lại cho ngân hàng 16 thương mại những khoản thu nhập không nhỏ. Các hoạt động dịch vụ này gồm dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, uy thác, đại lý, kinh doanh chứng khoan.Ngoai ra với xu thế công nghệ 4.0 các ngân hàng thương mại còn phat triển và cung cấp các dịch vụ như dịch vụ thẻ, Internet banking, Phonebanking, QR.
và phát triển mạnh dich vụ ngân hàng toàn cầu. Cac phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM 2. Phương pháp đánh giá các nhóm chỉ tiêu Để đánh giá, phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại ở cấp ngành và cấp quản lý của chính phủ thì các hệ số tài chính là công cụ sử dụng nhiều nhất. Mỗi hệ số đều cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa hai biến số tài chính qua đó phân tích và so sánh giữa các ngân hàng khác nhau và phân tích xu hướng biến động của các biến số theo thời gian.
Có nhiều hệ số tài chính được sử dụng nhằm đánh gia các khía cạnh hoạt động khác nhau của ngân hàng, hệ số tài chính này bao gồm tỷ số phản ảnh khả năng sinh lời, tỷ số phản ánh hiệu quả hoạt động và các tỷ số phản ánh rủi ro tài chính của ngân hàng. e Nhóm chỉ tiêu phan ánh kha năng sinh lời: ở đây nhóm chỉ tiêu này sẽ giúp phan ánh tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh theo thông lệ quốc tế gồm các chỉ tiêu sau: thu lãi biên ròng(NIM), thu ngoài lãi biên ròng(NOM), thu thập hoạt động bién(TNHDB), hệ số thu nhập trên cổ phiếu(ESP), thu nhập ròng trên tổng tài sản(ROA) và thu nhập tổng vốn chủ sở hữu(ROE). Tổng thu nhập — tổng chỉ phí Tổng tài sản có sinh loi(h)téng tài san có NOM = Tổng thu nhập ngoài lãi — tổng chi phí ngoài lãi 7 Tổng tài sản có Tổng thu hoạt động — tong chi phí hoạt độn TNHĐB = kảcbic- Ã4áháadhhon di là .ANNEikoii› Ẩholnd àhiua ào dài.