Phần mở đầu Chương II: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương III: Phương pháp nghiên cứu Chương IV: Thực trạng phát triển thị trường trái phiếu xanh tại các quốc gia Đông Nam Á Chương V: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 1. Đóng góp của nghiên cứu Các nghiên cứu khác tại Việt Nam mới chỉ tập trung vào phân tích sự phát triển cũng như thực trạng phát hành trái phiếu và học hỏi từ các nước khác ở phương diện chính sách và thể chế nói chung để đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Các tác giả vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu mục đích các tổ chức phát hành sử dụng và cách phân bổ nguồn vốn huy động từ phát hành TPX, trong khi đây là cở sở để thực hiện phát hành và là cốt lõi cho các hoạt động đầu tư vào TPX mà các tổ chức phát hành phải tuân thủ. Bài nghiên cứu này hy vọng sẽ đóng góp kinh nghiệm từ mục đích sử dụng nguồn vốn huy động từ phát hành TPX cho các tổ chức, doanh nghiệp, và chính phủ tại Việt Nam dựa trên kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển tại Đông Nam Á.
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan nghiên cứu 2. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Dina, Anant và Yang Liu (2019) sử dụng dữ liệu từ Bloomberg Terminal, các trang web của chính phủ và các nghiên cứu liên quan để xem xét việc phát hành TPX và các chính sách trong khu vực ASEAN. Nghiên cứu đã cung cấp một đánh giá toàn diện về chính sách và phát hành TPX, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc huy động tài chính tư nhân cho các dự án năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng trong khu vực.
Bài viết còn hạn chế về phạm vi nghiên cứu do chỉ tập trung vào 3 quốc gia phát hành TPX hàng đầu khu vực Đông NamÁ và chỉ phân tích về hiệu quả của các chính sách TPX trong việc thúc đẩy các dự án năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng trong ASEAN. Kuljira và Ndey (2019) đã nghiên cứu xem các tiêu chuẩn TPX hiện hành ảnh hưởng như thế nào đến việc sử dụng nguồn vốn huy động từ phát hành TPX. Đồng thời, hai tác giả đã nêu lên những hạn chế của các chính sách hiện hành và đưa ra giải pháp cải thiện để thúc đẩy sự phát triển của thị trường TPX. Bài viết đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính gồm đánh giá phân tích tổng quan nghiên cứu, thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc với mười chuyên gia trong lĩnh vực TPX từ mười công ty khác nhau.
Ngoài ra, tác giả còn đưa ra ba trường hợp gây tranh cãi để hỗ trợ cho mục đích nghiên cứu. Hạn chế của nghiên cứu là sự thiếu thốn trong nghiên cứu học thuật về các tiêu chuẩn trong thị trường TPX, đặc biệt là trong sử dụng nguồn vốn huy động từ phát hành loại trái phiếu này. và cộng sự (2022) đã đưa ra các nhìn tổng quan về thực trạng phát triển TPX tại các nước Đông Nam Á qua việc phân tích những thách thức, cơ hội và các vấn đề pháp lý, cũng như tăng trưởng dự kiến của thị trường. Bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể là phỏng vấn bán cấu trúc, để thu thập dữ liệu từ những người tham gia thị trường vốn ở các nước Đông Nam Á, nghiên cứu xác định một số rào cản đối với sự phát triển của TPX, bao gồm sự thiếu nhận thức của nhà đầu tư, nguồn cung cho các dự án xanh hạn chế, những thách thức về quy định và đưa ra những gợi ý cho các nhà thực hành và hoạch định chính sách liên quan đến sự phát triển của TPX.
Hạn chế của nghiên cứu này bao gồm quy mô nghiên cứu hạn chế khi chỉ phỏng vấn một số người tham gia thị trường, do đó không thể đại diện cho tất cả các thị trường Đông Nam Á. Tổng quan nghiên cứu trong nước Trần Thị Xuân Anh và cộng sự (2019) nghiên cứu về sự phát triển của hệ thống tài chính xanh ở Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm quốc tế và bài học kinh nghiệm. Báo cáo 4 cung cấp những hiểu biết sâu sắc về thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong việc tài trợ cho chiến lược tăng trưởng xanh và đưa ra khuyến nghị để xây dựng một hệ thống tài chính bền vững, dựa trên kinh nghiệm xây dựng hệ thống tài chính xanh tại các nước Ấn Độ, Singapore và Hàn Quốc. Ngoài ra, nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác quốc tế và chia sẻ kiến thức trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, nghiên cứu đã không phân tích chỉ tiết về tình trạng hiện tại và định hướng trong tương lai để áp dụng tài chính bền vững của hệ thống tài chính Việt Nam. Thông qua thu thập dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn sâu với 15 chuyên gia, Nguyễn Thị Thanh Huyền (2021) đã đánh giá thực trạng phát triển của thị trường TPX ở khía cạnh định tính, bao gồm: tính minh bạch trong công bố thông tin, tính chính xác trong sử dụng số tiền thu được từ đợt phát hành TPX và tính hiệu quả của dự án được tài trợ bởi các đợt phát hành TPX tại Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra các đánh giá về hạn chế của thị trường TPX Việt Nam và các nguyên nhân để đề xuất một số giải pháp có giá trị tham khảo cho Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng gặp phải một số hạn chế như sự thiếu thốn về các tài liệu văn bản pháp lý của một số quốc gia tại phần kinh nghiệm quốc tế, tác giả phải khai thác bằng nguồn tài liệu thứ cấp, do đó vẫn còn chưa cụ thể, chỉ tiết.
Cơ sở lý luận về sử dụng nguồn vốn huy động từ phát hành trái phiếu xanh 2. Một số khái niệm liên quan 2. Tăng trường xanh Mô hình kinh tế xanh hay mô hình tăng trưởng xanh là mô hình phát triển không chỉ nâng cao chất lượng của tăng trưởng, thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng theo hướng bền vững và cải thiện đời sống nhân dân, mà còn giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Nền kinh tế xanh là nền kinh tế sử dụng tài nguyên có hiệu quả cao, có mức phat thải thấp và hướng tới công bằng xã hội.
Ngân hàng Thế giới đưa ra khái niệm cho tăng trường xanh như sau: “Tăng trưởng xanh là hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, sạch trong việc giảm thiểu ô nhiễm và các tác động môi trường, linh hoạt trong khả năng thích ứng với các hiểm họa thiên nhiên, quản lý môi trường và vốn tự nhiên trong phòng chống thiên tai.” Theo OECD, Tăng trưởng xanh là thực hiện thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời vẫn đảm bảo rằng trữ lượng của các tài sản tự nhiên có thể tiếp tục cung cấp tài nguyên và dịch vụ môi trường cho con người trong tương lai. Tăng trưởng xanh tập trung vào hạn chế phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng có hiệu quả và sử dụng hiệu quả tài nguyên, tránh lãng phí. 5 Để tham gia vào quá trình tăng trưởng xanh, các quốc gia cần thực hiện các biện pháp cơ bản sau đây. Trước tiên, cần đảm bảo tiến hành đầu tư thận trọng và có hiệu quả vào vốn tài nguyên.
Đồng thời, tích cực sử dụng đầu tư vào năng lượng tái tạo và công nghệ ít các-bon để thay thế năng lượng hóa thạch và phát triển đô thị bền vững và giao thông ít gây ra khí thải carbon, tạo ra môi trường sống và làm việc thân thiện với môi trường. Cuối cùng là xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế tài chính phù hợp hỗ trợ cho các hoạt động nói trên. Nhìn chung, tăng trưởng xanh là một chiến lược quan trọng để giảm tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững. Quá trình này đòi hỏi nỗ lực phối hợp từ chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân để chuyển đổi sang một mô hình kinh tế bền vững hơn, cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và phát triển xã hội.
Tài chính xanh Tài chính xanh đề cập đến việc cung cấp nguồn vốn hoạt động cho các dự án và hoạt động bền vững nhằm giảm tác động xấu đến môi trường của biến đổi khí hậu. Tài chính xanh bao gồm các sản phẩm và dịch vụ tài chính hỗ trợ quá trình tăng trưởng xanh, chẳng hạn như trái phiếu xanh, tín dụng xanh và bảo hiểm xanh. Mục tiêu chính của tài chính xanh là khuyến khích đầu tư vào các dự án bền vững vì môi trường và góp phần hạn chế biến đổi khí hậu. Đồng thời, giúp thúc đẩy đổi mới và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, từ đó đưa ra các giải pháp bền vững và tiết kiệm chỉ phí hơn.
Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế đang ngày càng nhận ra tầm quan trọng của tài chính xanh trong việc bảo vệ môi trường sống và đang thực hiện các chính sách và chương trình để hỗ trợ sự phát triển của nó. Ví dụ, nhiều quốc gia đã đưa ra các ưu đãi về thuế, trợ cấp và khung pháp lý để khuyến khích đầu tư vào các dự án xanh và hỗ trợ phát triển thị trường tài chính xanh. Dự án xanh Dự án xanh là một khái niệm được sử dụng để mô tả các hoạt động đầu tư và phát triển thông qua các nguồn tài chính xanh có tính bền vững cao, tập trung vào các giải pháp và công nghệ thân thiện với môi trường, đồng thời đáp ứng được các tiêu chuẩn và yêu cầu về bảo vệ môi trường. Theo ICMA, dự án xanh hay dự án xanh đủ điều kiện cấp vốn là các dự án sử dụng năng lượng tái tạo, hiệu suất năng lượng, phòng chống ô nhiễm, quản lý bền vững môi trường tài nguyên thiên nhiên và sử dụng đất; bảo tồn đa dạng sinh học trên cạn và dưới nước; giao thông sạch; quản lý nước và nước thải bền vững; thích ứng với biến đổi khí 6 hậu; các sản phẩm có hiệu quả sinh thái và /hoặc thích ứng với phát triển kinh tế tuần hoàn công nghệ và quy trình sản xuất; công trình xanh.
Trái phiếu xanh (TPX) TPX được ra đời vào năm 2008, do Ngân hàng Thế giới phát hành với mục đích tài trợ vốn cho các dự án xanh về môi trường.