MỞ ĐẦU I. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái quan trọng, có ý nghĩa to lớn cả về bảo vê môi trường và kinh tế xã hội vùng ven biển nhiệt đới nói chung, ven biển Việt Nam nói riêng. RNM là nơi cung cấp các lâm sản có giá trị như gỗ làm nhà, than củi đun nấu, tanin và một số dược phẩm dùng để bào chế thuốc. RNM còn là nơi sinh sản, nuôi dưỡng con non của nhiều loài thủy hải sản có giá trị kinh tế tôm he, cua biển, sò, ốc.
RNM còn là nơi cư trú và làm tổ của nhiều loại chim, thú quí hiếm: chim nước, chim di cư, khi, lợn rừng, tran, chén, kỳ đà, cá sấu. Ngoài ra, RNM còn có một vai trò hết sức to lớn trong việc bảo vệ ven sông cửa biển, làm hạn chế xói lở, mở rộng diện tích lục địa, điều hòa khí hậu, tạo cảnh quan đẹp làm nơi du lịch, vui chơi và ngăn chặn gió bão, bảo vệ đân cư vùng ven biển. Nằm trong địa phận của thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM), Cần Giờ là huyện có diện tích RNM khoảng 40.000 ha, nó được coi như lá phổi xanh, là bức tường thành của thành phố giúp hạn chế ô nhiễm, bảo vệ dân cư và đất đai ven biển của TP.
-3- Do hậu quả của chất độc hóa học Đế quốc Mỹ sử dụng trong chiến tranh, do khai thác bừa bãi kiệt qué nên phần lớn RNM Cần Giờ không còn nữa, nhiều vùng trở nên hoang hóa. Từ năm 1978 đến nay, được sự chỉ đạo đầu tư của Nhà nước, Ủy ban Nhân dân TP. HCM, Cần Giờ đã trồng lại khoảng 20. Tuy nhiên ở một số nơi bị chỉ phối bởi nguồn lợi trước mắt, đã chặt phá RNM để làm đẩm nuôi tôm (trong đó có Lâm viên Cần Giờ).
Do nhiều yếu tố tác động nên chi 1-2 năm sau môi trường các đầm tôm bị thoái hóa nghiêm trọng, việc nuôi tôm không hiệu quả nữa và người ta đã bỏ hoang chúng. Cuối năm 1996, Lâm viên Cần Giờ đã trồng lại RNM trên 20 ha dim tôm bỏ hoang. Mười loài cây ngập mặn đã được trồng trên các đầm này, nhưng việc theo dõi sinh trưởng và phát triển cũng như xác lập cơ sở khoa học của việc rồng các loài cây này chưa được nghiên cứu. Vi thế chúng tôi tiến hành để tài: “Bước đầu nghiên cứu sự tăng trưởng của Đưng (Rhizophora mucronata Lamk) trồng trên các đẩm tôm bỏ hoang ở Lâm viên Cần Giờ", Việc nghiên cứu này ngoài ra còn giúp chúng tôi lam quen với nghiên cứu khoa học, trang bị cho chúng tôi phương pháp nghiên cứu, vận dụng một số kiến thức đã học vào công tác thực tiễn và tạo cơ sở khoa học cho việc xác lập các loài cây ngập mặn thích hợp phục hồi RNM ở các đắm tôm bỏ hoang Can Giờ và các địa phương khác.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Do thời gian và kinh phí có hạn nên chúng tôi chỉ nghiên cứu sự sinh trưởng của Dung với các chỉ tiêu về: !# Tăng trưởng chiéu cao cây. ! Tang trưởng về số đốt, số cành cấp I, số rễ chống. * Tăng trưởng về đường kính thân. * Tăng trưởng về đường kính tán lá.
# Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của các cây ngập mặn. PHAN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU I. SƠ LƯỢC TINH HÌNH NGHIÊN CỨU RNM CUA THẾ GIỚI Từ lâu các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn (HSTRNM) vì những giá trị kinh tế to lớn cũng như bảo vệ môi trường vùng ven biển, Các công trình nghiên cứu tập trung vào mô tả, phân loại, tăng trưởng, diễn thế, sinh khối và năng suất. Trong những năm gần đây, do tình hình khai thác quá mức tài nguyên HSTRNM, nhiều tổ chức quốc tế như FAO, UNESCO, UNDP.
đã quan tâm đến vấn để bảo vệ và phát triển tài nguyên HSTRNM. Chương trình sinh học quốc tế “International Biological Programme” (IBP) đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu về RNM ở các nước trên thế giới. > Ở Úc có nhiểu công trình nghiên cứu sâu vé nhiều mặt của HSTRNM. > Ở Ấn Độ, các nhà khoa học công bố một số tài liệu về cấu trúc động thái của các quần xã, mạng lưới thức ăn trong RNM.
2 Ở các nước Đông Nam A như: Indonesia, Malaysia, Thái Lan. cũng có nhiều công trình nghiên cứu, > Ở Nhat, càng ngày càng có nhiều nhà khoa học và các tổ chức ở Nhật quan tâm nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn. TINH HÌNH NGHIÊN CỨU RNM Ở VIET NAM: Từ trước tới nay ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu HSTRNM Việt Nam. > Vũ Văn Cương (1964) nghiên cứu về thực vật rừng sát Vũng Tàu > Phan Nguyên Hồng (1970 - 1991) nghiên cứu về hệ sinh thảm thực vật RNM Việt Nam.
© Đặc biệt trung tâm nghiên cứu HSTRNM (Đại học Quốc gia Hà Nội) do Giáo sư Phan Nguyên Hồng chủ trì đã thực hiện nhiều chương trình trọng điểm quốc gia về diéu tra tổng hợp HSTRNM Việt Nam. Trung tâm đã hợp tác với một số tổ chức quốc tế trong việc nghiên cứu khôi phục. bảo tổn RNM Việt Nam. Riêng ở Cần Giờ — TP.
HCM có công trình nghiên cứu chủ yếu về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trồng và một số công trình nghiên cứu về: !# Tăng trưởng và sinh khối của Đước đôi (R. apiculata) trồng tại Cần Giờ của Viên Ngọc Nam ~ 1995, 1996. 3# Ảnh hưởng của thể nền đến sự tăng trưởng và sinh khối của rừng Dang (R. Stylosa) và rừng Đước đôi (R, apiculata) trồng ở Hà Tĩnh và Cần Giờ của Nguyễn Đức Tuấn, 1995.7< # Nghiên cứu về sự ra hoa, kết quả của một số cây ngập mặn ở Cần Giờ của Lê Thị Tré, 1996, 1997.
Nhìn chung ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu sự tăng trưởng của Dung (Rhizophora mucronata). PHAN DIA DIEM NGHIEN CUU |. ĐẶC ĐIỂM VUNG NGHIÊN CỨU 1. VỊ TRÍ BỊA LÝ Cần Giờ là một huyện nim ở Nam thành phố Hồ Chi Minh, tổng diện tích 71.361 ha, chia ra 7 xã, rừng chia 24 tiểu khu.
Trung tâm huyện cách trung tâm TP.HCM là 65km, chiểu dài huyện Bắc xuống Nam là 35 km, Đông sang Tây là 30 km. Bắc huyện Cần Giờ giáp huyện Nhà Bè, Nam giáp biển Đông, Tây giáp tỉnh Tiển Giang và Long An, Đông giáp huyện Long Thành (Đồng Nai). Chúng tôi nghiên cứu tại tiểu khu 17 (Lâm Viên Cin Giờ) Lâm Viên Cần Giờ có diện tích 2000 ha, chủ yếu là rừng ngập mặn. Lâm viên Cần Giờ có Bắc giáp Tiểu khu 11, phân chia bởi sông Hào V6, Nam giáp sông Déng Hòa, Đông giáp tiểu khu 21, Tây giáp sông Đồng tranh.
KHÍ HẬU THUY VĂN: Theo trạm khí tượng thủy văn Cần Giờ (1997), năm có hai mùa - mùa mưa từ tháng (4 -10), mùa khô từ tháng (11 -3). > Lượng mưa trung bình năm là 1356mm. > Nhiệt độ hình quân năm là 25,8°C. > Ẩm độ không khí bình quân năm là 85,2%.
Các tháng nghiên cứu từ 11/97 đến 4/98 (Xem bảng 1). BANG 1: DAC DIEM KHÍ Hậu KH Vực NGHIÊN cứu (Trạm khí tượng thủy văn lâm viên Cần Giờ) 1. Nhiệt độ không khí ÚC) * Cao nhất « Thấp nhất « Trung bình ® Gió có hai hướng chính: s® Gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa khô. * Gió mùa Đông Nam thổi vào mùa mưa, > Thủy triéu theo chế độ bán nhật triểu (ngày hai lần) mỗi lin có thời gian ngập triều từ 2 - 3giờ.
BAC BIỂM CUA CAC BAM NGHIÊN CUU. Lâm Viên Cần Giờ có 10 đầm tôm bỏ hoang. Chúng tôi nghiên cứu 3 đầm tôm đã được trồng lại Đưng (Rhizophora mucronata), đó là đầm 1, đầm 9, đầm 10. # Diện tích: Mỗi đầm tôm có điện tích 2 ha với chiéu rộng là 100m, chiều dài 200m hơi đốc theo hướng Tây - Đông.
Trong các đầm đều có cống xả để điều tiết mức độ ngập triều. ` Thổ nhưỡng: Theo qui phạm kỹ thuật trồng và bảo vệ rừng được ban hành 1984, chia đất ngập mặn thành những dang sau: > Dang bùn loãng: khi đi chân bị lún sâu lớn hơn 30cm, và khi cử động lại có chiều hướng lún sâu hơn. > Dang bùn: chân đi lún sâu 20 - 30 cm, khó rút chân lên. > Dang sét mềm: đi chân bị lún sâu 10 - 20cm.
> Dang sét: đi chân bị lún sâu 5 -l0cm > Dang đất rắn chắc: đất ẩm ướt, chân đi không lún chi in dấu chân. Các đầm tôm bỏ hoang được trồng Dung ở Lâm viên Can Giờ thuộc dạng: - 11- > Đầm |: Dạng đất rắn chắc, nền đất có nhiều cỏ sam, cỏ chỉ, 1/4 đầu phía Tây dạng sét mềm. > Đầm9 | Dạng sét - sét mém: nền đất ngập nước thường > Đầm 10 xuyên từ 5 — 10cm, không có cỏ sam. -12- PHAN FV ĐỐI TƯỢNG VA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU |.
ĐỐI TƯỢNG Chúng tôi chor =ác quan thé Dung trồng trong các đầm 1, 9 và 10 để nghiên cứu sự tăng trưởng. Chúng tôi thu mẫu và dựa vào tài liệu cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1993) để xác định đối tượng nghiên cứu. Tên thông thường: Dung, Đước bộp. Tên khoa hoc: Rhizophora mucronata Lamk.
Ho Đước: Rhizophoraceae. ~ Dam |, Dung được trồng với mật độ 1m x 2m. Đầm 9 va 10, Dung được trồng với mật độ 1m x Im. Thời gian trồng vào tháng 11/1997.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. PHUONG PHAP NGHIÊN CU VỀ TANG TRƯỞNG CIA CAY Chúng tôi dựa theo phương pháp nghiên cứu tác giả Donald Macintosh, 1991, trong dự án UNDP - UNESCO RAS/86/120 Ranong Projeet để theo dõi sự tăng trưởng của các loài cây ngập mãn nghiên cứu.s: Trong mỗi dim, chúng tôi chọn 2 ô tiêu chuẩn mỗi ô tiêu chuẩn 10m x 10m, và theo dõi tất cả cây trong đó. > Dùng thước dây đo chiéu cao cây: = Chiểu cao tổng số: từ mat đất đến ngọn thân, chỗ xuất phát 2 lá non. s Chiểu cao trên trụ mam: từ đỉnh trụ mim đến ngọn thân chỗ xuất phát 2 lá non.
> Dùng thước kẹp để đo đường kính cây ở vị trí đốt thứ I của cây. > Thống kê số rễ chống, số lượng cành cấp I, số đốt. PHƯƠNG PHAP NGHIEN CỨU VE CHAT LƯỢNE NƯỚI > Dùng máy đo pH, máy đo độ mặn để đo độ pH, độ mặn của nước trong các đầm nghiên cứu. > Theo dõi về số lần ngập triểu trong ngày, thời gian ngập và mức độ ngập triểu trong các 44m trồng cây ngập mặn nghiên cứu.