Chương 1 đã trình bày một cách cơ bản và tương đối cụ thể, đầy đủ về những vấn đề lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải. Cụ thể khóa luận đã đưa ra được khái niệm, đặc điểm của giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải cũng như pháp luật trong lĩnh vực này. Trong đó khóa luận đã làm rõ khái niệm pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải, phân tích làm nổi bật cấu trúc của pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải. Việc sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải tại Việt Nam là một đòi hỏi cấp thiết.
Nghị định 22/2017/NĐ-CP hiện nay đã bộc lộ một số hạn chế trong quy định cũng như quá trình áp dụng. Chương 2 của khóa luận trình bày cụ thể về nội dung này. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 2. Thực trạng pháp luật hòa giải thương mại tại Việt Nam 2.
Thực trạng quy định về tổ chức hòa giải thương mại Theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP của Chính Phủ Việt Nam, các tổ chức hòa giải thương mại hiện nay tại Việt Nam bao gồm Trung tâm Hòa giải Thương mại và Trung tâm Trọng tài Thương mại, đều thực hiện các hoạt động hòa giải thương mại. Các tổ chức hòa giải thương mại quốc tế chỉ được phép hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh hoặc văn phòng đại diện. (i) Trung tâm Hòa giải thương mại Trung tâm Hòa giải Thương mại là tổ chức phi lợi nhuận, chuyên nghiệp trong việc hòa giải các tranh chấp thương mại. Bằng việc áp dụng các quy định pháp lý, Nhà nước Việt Nam thiết lập các điều kiện và thủ tục pháp lý nhằm công nhận hoạt động của những Trung tâm này.
Theo pháp luật Việt Nam, một trung tâm hòa giải thương mại được xem là một đơn vị cung cấp dịch vụ hòa giải chuyên nghiệp, được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng biệt (theo Khoản 1, Điều 19, Nghị định 22/2017/NĐ-CP). Trung tâm hòa giải hoạt động với mục tiêu phi lợi nhuận (theo Khoản 2, Điều 19, Nghị định 22/2017/NĐ- CP), và vì thế, hoạt động hòa giải thương mại không được coi là một loại hình kinh doanh truyền thống. Các Trung tâm Hòa giải cần phải rõ ràng về mục tiêu cung cấp dịch vụ có ích cho xã hội, để căn cứ vào đó làm cơ sở cho việc điều chỉnh các quy định pháp lý phù hợp về mục tiêu hoạt động, phương thức hoạt động và các vấn đề liên quan khác trong điều lệ của Trung tâm. Theo quy định pháp luật hiện hành, chỉ có công dân Việt Nam đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của hòa giải viên thương mại mới được phép gửi hồ sơ xin thành lập Trung tâm hòa giải thương mại tới Bộ Tư pháp (Khoản 1 Điều 21 Nghị định 22/2017/NĐ-CP).
Điều này ngụ ý rằng, một cá nhân muốn thành 15 lập trung tâm hòa giải cần phải là công dân Việt Nam và phải đáp ứng các tiêu chuẩn của một hòa giải viên thương mại theo đúng pháp luật. Dựa vào Giấy đề nghị thành lập Trung tâm hòa giải thương mại theo Mẫu số 02/TP- HGTM được ban hành bởi Thông tư số 02/2018/TT-BTP, rõ ràng các tổ chức không được quyền thành lập hay tham gia vào hoạt động của Trung tâm hòa giải thương mại. Việc thành lập Trung tâm hoà giải trải qua ba bước: Bước 1: Xin cấp phép thành lập - Bộ Tư Pháp quản lý việc cấp phép cho các Trung tâm hòa giải, bắt đầu bằng việc xem xét hồ sơ thành lập. Hồ sơ cần có: Giấy đề nghị, danh sách sáng lập, chứng minh tiêu chuẩn sáng lập viên, và dự thảo Quy tắc hòa giải.
Bộ Tư pháp sẽ quyết định cấp phép dựa trên tính hợp lệ và đáp ứng điều kiện pháp luật của hồ sơ trong vòng 30 ngày. Bước 2: Đăng ký hoạt động - Sau khi nhận Giấy phép thành lập, sáng lập viên tiếp tục đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp địa phương. Hồ sơ đăng ký bao gồm: Giấy đề nghị đăng ký hoạt động, bản sao giấy phép thành lập và giấy tờ chứng minh trụ sở. Sở Tư pháp sẽ cấp Giấy đăng ký hoạt động trong 15 ngày nếu hồ sơ hợp lệ và thông báo cho Bộ Tư pháp.
Bước 3: Hoạt động và công bố thông tin - Trung tâm có thể hoạt động từ ngày cấp Giấy đăng ký hoạt động. Trong 30 ngày sau đó, Trung tâm cần công bố thông tin trên báo chí về tên, địa chỉ, lĩnh vực hoạt động, số Giấy đăng ký hoạt động và thời điểm bắt đầu hoạt động. Mục đích là minh bạch thông tin và giới thiệu Trung tâm đến cộng đồng. Trung tâm hoà giải thương mại sẽ chấm dứt theo hai lý do như sau: Một là, Trung tâm hoà giải tự quyết định chấm dứt hoạt động.
Phương pháp này đồng nghĩa với việc pháp nhân tự nguyện giải thể. Nguyên nhân cho việc này được quy định cụ thể trong Điều lệ của Trung tâm. Trung tâm cần thanh toán mọi nợ nần, giải quyết các nghĩa vụ về tài sản, thanh lý hợp đồng và hoàn thành mọi vụ việc đã nhận, trừ khi có sự thoả thuận khác với khách hàng, trong vòng 60 ngày kể từ khi ra quyết định giải 16 thể. Về thủ tục, Trung tâm cần thông báo về việc giải thể tới Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp ít nhất 30 ngày trước khi giải thể.
Sau khi đã giải quyết xong mọi nghĩa vụ, trong 10 ngày, Trung tâm cần thông báo cho Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp. Bộ Tư pháp sẽ quyết định thu hồi Giấy phép thành lập trong 10 ngày làm việc sau khi nhận báo cáo và Sở Tư pháp sẽ thu hồi Giấy đăng ký hoạt động trong vòng 5 ngày làm việc sau khi quyết định của Bộ Tư pháp có hiệu lực. Hai là, Trung tâm hoà giải thương mại bị thu hồi giấy phép thành lập. Trong tình huống bắt buộc, Trung tâm hòa giải thương mại sẽ phải giải thể khi bị thu hồi giấy phép thành lập dưới các điều kiện sau đây (theo Khoản 1 Điều 30 Nghị định 22/2017/NĐ-CP): Khi Trung tâm có vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hòa giải thương mại đã bị xử phạt và tái phạm.
Tuy nhiên, hiện nay quy định chưa cụ thể về vi phạm hành chính trong hoạt động hòa giải thương mại, do đó khó áp dụng quy định này trên thực tế. Nếu Trung tâm không thực hiện bất kỳ hoạt động hòa giải thương mại nào trong 5 năm liên tục kể từ ngày nhận giấy phép thành lập. Đây là một khoảng thời gian cần được xem xét rút ngắn. Trung tâm không đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp địa phương trong vòng 30 ngày sau khi giấy phép thành lập có hiệu lực, trừ khi có lý do chính đáng.
Thu hồi giấy phép thành lập là lý do để Sở Tư pháp thu hồi giấy đăng ký hoạt động. Trung tâm cần giải quyết hết các nghĩa vụ tài chính, thanh lý hợp đồng và hoàn tất các vụ việc đã nhận trong 60 ngày sau khi quyết định thu hồi giấy phép của Bộ Tư pháp có hiệu lực, trừ khi có thỏa thuận khác (ii) Trung tâm trọng tài thương mại có đăng ký hoạt động hoà giải thương mại Loại hình thứ hai có khả năng cung cấp dịch vụ hòa giải tại Việt Nam là các Trung tâm Trọng tài Thương mại. Đây là các tổ chức chuyên cung cấp 17 dịch vụ trọng tài, được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại. Tuy nhiên, để có thể cung cấp dịch vụ hòa giải, các trung tâm này cần thực hiện thủ tục đăng ký hoạt động hòa giải thương mại bổ sung.
Theo Luật Trọng tài Thương mại 2010, trung tâm trọng tài đã được nhà nước công nhận quyền cung cấp dịch vụ trọng tài, hòa giải và các dịch vụ giải quyết tranh chấp thương mại khác (theo Khoản 5, Điều 28, Luật Trọng tài Thương mại 2010). Tuy nhiên, vào thời điểm đó, việc cung cấp dịch vụ hòa giải chủ yếu dựa vào sự hiểu biết và tự quản của các trung tâm, với việc giải quyết tranh chấp dựa vào thoả thuận giữa các bên và trung tâm trọng tài, cũng như quy định hòa giải của chính trung tâm (nếu có). Do đó, dịch vụ hòa giải tại các trung tâm trọng tài vẫn chưa được xem xét như một dịch vụ chuyên nghiệp và độc lập. Nhưng với quy định rõ ràng hơn tại Nghị định 22/2017/NĐ-CP, dịch vụ hòa giải tại các trung tâm trọng tài đã trở nên độc lập hơn so với trước, không bị lẫn lộn với các hoạt động hòa giải trong quy trình trọng tài.
Quy định cho phép các Trung tâm Trọng tài cung cấp dịch vụ hòa giải độc lập đã mở rộng khả năng chuyên môn hóa giải quyết tranh chấp cho các trung tâm này, đồng thời giúp dịch vụ hòa giải thương mại tiếp cận nhanh chóng và gần gũi hơn với khách hàng trong bối cảnh dịch vụ này còn khá mới mẻ. Trung tâm Trọng tài Thương mại được cung cấp dịch vụ hòa giải nếu thực hiện thủ tục đăng ký hoạt động hòa giải bổ sung hoặc nếu mới thành lập, bằng cách kèm Dự thảo quy tắc hòa giải trong hồ sơ thành lập. Để đăng ký thêm hoạt động hòa giải, Trung tâm cần nộp hồ sơ bao gồm: Giấy đề nghị theo mẫu số 03/TP-HGTM và dự thảo Quy tắc hòa giải, theo Thông tư số 02/2018/TT-BTP. Bộ Tư pháp sẽ quyết định bổ sung hoạt động hòa giải trong 15 ngày nếu hồ sơ đủ điều kiện, và nếu không chấp nhận sẽ thông báo bằng văn bản.
Sau đó, Trung tâm cần đăng ký thay đổi hoạt động tại Sở Tư pháp. Như vậy, Nhà nước đã khuyến khích phát triển hòa giải 18 thương mại, cho phép trung tâm trọng tài cung cấp dịch vụ hòa giải thông qua thủ tục pháp lý đơn giản và nhanh chóng Chấm dứt hoạt động hoà giải thương mại của Trung tâm trọng tài Trung tâm trọng tài chấm dứt hoạt động hoà giải trong các trường hợp: Chấm dứt hoạt động trọng tài theo luật trọng tài thương mại hoặc do giấy phép và đăng ký hoạt động bị thu hồi, theo Điều lệ của Trung tâm hoặc quy định pháp luật (Điều 29 Luật trọng tài thương mại 2010). Do chức năng chính là trọng tài, việc này cũng dẫn đến chấm dứt hoạt động hòa giải. Chấm dứt hòa giải thương mại theo Điều lệ Trung tâm, tức là Trung tâm vẫn tồn tại nhưng không còn thực hiện hòa giải.
Không thực hiện hòa giải thương mại trong 5 năm sau khi Bộ Tư pháp chấp thuận bổ sung hoạt động này.