Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mức độ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các chuỗi cung ứng vốn giữ vai trò huyết mạch kết nối và thúc đẩy sự phát triển của các thị trường tài chính, bất động sản, thương mại, lao động và khoa học công nghệ. Trong hoạt động cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM), áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ là công cụ pháp lý trọng yếu nhằm bảo đảm tính an toàn cho nguồn vốn, giảm thiểu rủi ro nợ xấu, tạo điều kiện cho cá nhân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay thuận lợi với chi phí hợp lý.

Tuy nhiên, hệ thống quy định pháp luật hiện hành về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động cho vay tại NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Một số quy phạm còn thiếu tính cụ thể, dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các chủ thể tham gia giao dịch cũng như gây lúng túng cho cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu một cách có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn thi hành nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động cho vay tại NHTM; đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, khóa luận xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay trong hoạt động cho vay tại NHTM, chỉ ra các biện pháp bảo đảm được áp dụng phổ biến cùng vai trò pháp lý của chúng.
  2. Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng liên quan đến ba nhóm vấn đề trọng tâm: (i) các biện pháp bảo đảm phổ biến gồm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh; (ii) hợp đồng bảo đảm (chủ thể, tài sản, hình thức và hiệu lực); (iii) xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay tại NHTM.
  3. Đề xuất các quan điểm, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay tại NHTM.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động cho vay tại NHTM; thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành; thực tiễn áp dụng, các vướng mắc, bất cập trong giải quyết tranh chấp tín dụng; các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện thể chế.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Phạm vi áp dụng pháp luật và thực tiễn hoạt động cho vay có bảo đảm tại các NHTM trên lãnh thổ Việt Nam.
    • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật từ thời điểm Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 có hiệu lực thi hành cùng các văn bản chuyên ngành ngân hàng hiện hành; đồng thời có sự đối chiếu, so sánh với các quy định từ thời điểm BLDS 2005 và các văn bản trước đó để đánh giá tiến trình phát triển.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân loại quyền tài sản trong khoa học pháp lý dân sự:

  • Lý thuyết vật quyền và trái quyền: Làm cơ sở phân định biện pháp bảo đảm đối vật (trao cho bên nhận bảo đảm quyền truy đòi tài sản và quyền ưu tiên thanh toán như cầm cố, thế chấp) và biện pháp bảo đảm đối nhân (dựa trên quan hệ trái quyền, bên bảo đảm cam kết thực hiện nghĩa vụ thay mà không trao quyền trực tiếp lên tài sản cụ thể như bảo lãnh).
  • Đặc trưng pháp lý của biện pháp bảo đảm tiền vay: Tính chất phụ thuộc vào nghĩa vụ chính của hợp đồng tín dụng; tính chất dự phòng và tính chất khắc phục hậu quả rủi ro khi bên vay vi phạm nghĩa vụ; nguyên tắc thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn.
  • Khái niệm nghiên cứu: Đề tài tiếp cận khái niệm bảo đảm theo nghĩa hẹp, được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa NHTM và bên vay vốn nhằm áp dụng các biện pháp bảo đảm theo luật định phát sinh từ hoạt động cho vay, nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi tiền vay.
  • Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh: BLDS 2015 (thay thế BLDS 2005, BLDS 1995); Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Luật Các tổ chức tín dụng 2024; Luật Doanh nghiệp 2020; Luật Đất đai 2013 (đối chiếu Luật Đất đai 2003); Nghị định 21/2021/NĐ-CP (thay thế Nghị định 163/2006/NĐ-CP); Nghị định 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm; Thông tư 39/2016/TT-NHNN (sửa đổi bởi Thông tư 06/2023/TT-NHNN) và Thông tư 200/2014/TT-BTC.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, các bài viết chuyên khảo, số liệu thực tiễn và bản án tranh chấp tín dụng thực tế.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các quy định pháp luật thực định, tài liệu học thuật và thực tiễn xét xử thành từng bộ phận cấu thành; sau đó tổng hợp, liên kết nhằm tạo lập hệ thống luận điểm khoa học đánh giá toàn diện đề tài.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định pháp luật qua các thời kỳ lịch sử (từ năm 1989 đến nay); so sánh sự khác biệt giữa các biện pháp bảo đảm trong BLDS 2015; phân tích sự tương thích giữa mô hình phân loại tài sản của hệ luật La-tinh (Civil Law) và Anh - Mỹ (Common Law).

Nguồn dữ liệu

Công trình sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) và Viện Nghiên cứu Lập pháp, sách chuyên khảo của các chuyên gia pháp lý (Luật sư Trương Thanh Đức, GS.TS. Đỗ Văn Đại), tài liệu tham luận tại Hội thảo chuyên đề của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao (năm 2023) và các bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm có thật.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại

Chương này tập trung xác lập hệ thống lý luận nền tảng điều chỉnh chế định bảo đảm tiền vay:

  • Khái niệm và đặc điểm: Phân tích nguồn gốc chế định bảo đảm từ cổ luật La Mã, làm rõ bản chất bảo đảm đối vật và đối nhân. Xác định ba đặc điểm cốt lõi của bảo đảm tiền vay tại NHTM: (i) tồn tại đồng thời và mang tính chất phụ thuộc vào hợp đồng tín dụng; (ii) mang tính chất dự phòng và khắc phục hậu quả rủi ro; (iii) hình thành dựa trên sự tự do thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng theo Điều 15 Thông tư 39/2016/TT-NHNN.
  • Sự chọn lọc biện pháp bảo đảm trong hoạt động ngân hàng: Trong số 9 biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 292 BLDS 2015, tác giả lập luận chỉ có 3 biện pháp phù hợp và được áp dụng phổ biến trong hoạt động cho vay của NHTM là cầm cố, thế chấp và bảo lãnh. 6 biện pháp còn lại không phù hợp với bản chất quan hệ tín dụng ngân hàng: ký cược chỉ áp dụng cho thuê động sản (Điều 320 BLDS); tín chấp không có giá trị tài sản chỉ dùng cho người nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội (Điều 344 BLDS); đặt cọc không phù hợp với giai đoạn cấp tín dụng (Điều 328 BLDS); ký quỹ sử dụng tài khoản phong tỏa tiền/giấy tờ có giá không tối ưu cho mục đích cho vay (Điều 330 BLDS); bảo lưu quyền sở hữu chỉ áp dụng trong mua bán (Điều 331 BLDS); cầm giữ tài sản chỉ áp dụng trong hợp đồng song vụ (Điều 346 BLDS).
  • Lịch sử phát triển pháp luật Việt Nam: Khái quát sự chuyển dịch chính sách pháp luật qua các thời kỳ, thể hiện qua bảng đối chiếu sau:
Thời kỳ / Văn bản pháp luật Quy định về điều kiện áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay
Quyết định 156/NH-QĐ (1989) Bắt buộc phải có thế chấp tài sản khi vay vốn đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh; mức cho vay tối đa bằng 80% trị giá tài sản thế chấp.
Luật Các TCTD 1997 & Nghị định 178/1999/NĐ-CP Quy định cho vay có bảo đảm bằng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. TCTD có quyền tự chủ nhưng sau đó bị khống chế tỷ lệ cho vay không bảo đảm bởi QĐ 107/2000/QĐ-NHNN1 và QĐ 266/2000/QĐ-NHNN1.
Luật sửa đổi Luật Các TCTD 2004 Trao toàn quyền cho TCTD xem xét, quyết định cho vay có hoặc không có bảo đảm bằng tài sản và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Luật Các TCTD 2010 (sửa đổi 2017) & Luật Các TCTD 2024 Cho phép thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo đảm theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN; chỉ cấm cấp tín dụng không có bảo đảm cho nhóm đối tượng bị hạn chế (Điều 127 Luật 2010; Điều 135 Luật 2024).

Chương II: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại

Chương II là phần trọng tâm, phân tích chi tiết các vướng mắc thực tiễn qua ba nội dung:

[Chương II: Thực trạng & Thực tiễn áp dụng]
  1. Thực trạng 3 biện pháp bảo đảm phổ biến:

    • Biện pháp cầm cố: Nghị định 21/2021/NĐ-CP (Điều 13, 27, 54) đã chuẩn hóa khái niệm "cầm cố số dư tiền gửi" thay thế thuật ngữ không chính xác trước đây là "cầm cố sổ/thẻ tiết kiệm" (do thẻ tiết kiệm là chứng chỉ chứng nhận quyền sở hữu, không phải tài sản theo BLDS). Hoạt động cho vay cầm cố số dư tiền gửi phát sinh rủi ro "tín dụng ma", làm giả sổ tiết kiệm, làm giả chữ ký để chiếm đoạt tiền vay, dẫn đến việc Ngân hàng Nhà nước phải ban hành Công văn số 7031/NHNN-TTGSNH siết chặt phương án sử dụng vốn vay theo Điều 7 Thông tư 39/2016/TT-NHNN.
    • Biện pháp thế chấp và bảo vệ người thứ ba ngay tình: Phân tích áp dụng Điều 133 BLDS 2015 khi giao dịch chuyển nhượng trước đó của bên thế chấp bị vô hiệu. TAND Tối cao tại Công văn số 64/TANDTC-PC xác định thế chấp là "giao dịch chuyển giao tài sản có điều kiện" thuộc phạm vi bảo vệ của Điều 133. Tuy nhiên, tại Công văn số 02/TANDTC-PC, TAND Tối cao lại đưa ra hướng dẫn: nếu NHTM không thẩm định thực tế hiện trạng quản lý, sử dụng tài sản (để người chuyển nhượng trước đó vẫn đang chiếm hữu) thì ngân hàng không được coi là ngay tình và hợp đồng thế chấp bị vô hiệu. Tác giả chỉ ra quy định này chưa hoàn toàn tương thích với Thông tư 39/2016/TT-NHNN (Điều 17, 22), vốn không bắt buộc NHTM phải thẩm định thực tế tài sản bảo đảm mà để NHTM tự quy định trong quy trình nội bộ.
    • Biện pháp bảo lãnh và thế chấp tài sản của người thứ ba: Trước BLDS 2015, sự pha trộn giữa bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất (Nghị định 84/2007/NĐ-CP, Nghị định 163/2006/NĐ-CP) và thế chấp dẫn đến nhiều bản án tuyên vô hiệu hợp đồng do nhầm lẫn tên gọi. Khoản 3 Điều 336 BLDS 2015 đã tháo gỡ khi cho phép các bên thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh. Đồng thời, Khoản 3 Điều 4 Nghị định 21/2021/NĐ-CP và Nghị định 99/2022/NĐ-CP thừa nhận việc chủ sở hữu dùng tài sản của mình để bảo đảm trực tiếp nghĩa vụ của người khác. Hướng dẫn số 25/HD-VKSTC của VKSND Tối cao khẳng định việc xem xét tính có hiệu lực của hợp đồng phải căn cứ vào nội dung và ý chí thỏa thuận thực tế của các bên thay vì chỉ dựa vào tên gọi hình thức của văn bản.
  2. Hợp đồng bảo đảm trong hoạt động cho vay:

    • Chủ thể giao kết: BLDS 2015 chỉ công nhận hai chủ thể là cá nhân và pháp nhân (Điều 1, 101), không còn chủ thể hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Tuy nhiên, trên hợp đồng bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm (Điều 12, 37 Nghị định 99/2022/NĐ-CP; Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020), việc ghi nhận tên DNTN vẫn cần thiết để xác định tài sản và nghĩa vụ của chủ DNTN.
    • Thẩm quyền của doanh nghiệp khi giao kết giao dịch bảo đảm: Luật Doanh nghiệp 2020 quy định hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh có giá trị lớn phải được thông qua bởi Hội đồng thành viên/Chủ sở hữu đối với Công ty TNHH (từ 50% tổng tài sản theo Điều 55, 76) hoặc ĐHĐCĐ/HĐQT đối với Công ty cổ phần (từ 35% tổng tài sản theo Điều 138, 153).
    • Phân tích án lệ thực tiễn: Bản án số 17/2019/KDTM-PT của TAND TP. Hà Nội giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP AC và bị đơn ông Nguyễn Tuấn A (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TN và Công ty B&B). Tòa cấp sơ thẩm tuyên cam kết thế chấp và chứng thư bảo lãnh vô hiệu do chưa có Nghị quyết HĐQT. Tòa cấp phúc thẩm đã sửa án, công nhận hiệu lực của các cam kết bảo đảm này với lập luận: trong thời gian thực hiện hợp đồng, HĐQT của hai công ty đã họp ĐHĐCĐ thường niên và thông qua các Báo cáo tài chính phản ánh giao dịch thế chấp (phù hợp với quy định tại Điều 49 Thông tư 200/2014/TT-BTC), do đó các thành viên HĐQT đương nhiên phải biết và không phản đối giao dịch.
    • Tài sản bảo đảm: Phân tích hệ thống hóa tài sản theo 4 loại (vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản) và làm rõ 3 điều kiện chung: (i) thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (Điều 295 BLDS); (ii) được phép giao dịch (Điều 8 Nghị định 21/2021/NĐ-CP); (iii) được mô tả chung nhưng phải xác định được (Điều 9 Nghị định 21/2021/NĐ-CP).
    • Hình thức và hiệu lực: Phân tích yêu cầu công chứng, chứng thực (Điều 119, 129, 132 BLDS 2015) và thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm đối với bất động sản theo Nghị định 99/2022/NĐ-CP.
  3. Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm: Phân tích các phương thức xử lý tài sản bảo đảm và các cơ chế đặc thù áp dụng cho NHTM trong thu hồi nợ.

Chương III: Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại

  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Hoàn thiện pháp luật về cầm cố: Chuẩn hóa quy định về cầm cố số dư tiền gửi, cơ chế phong tỏa tài khoản và kiểm soát mục đích sử dụng vốn nhằm ngăn chặn rủi ro tín dụng khống.
    • Hoàn thiện pháp luật về thế chấp: Minh định rõ ràng các tiêu chí xác định "người thứ ba ngay tình" tại Điều 133 BLDS 2015; phân định ranh giới giữa nghĩa vụ kiểm tra của ngân hàng theo quy trình nội bộ và điều kiện công nhận hiệu lực giao dịch bảo đảm khi có tranh chấp.
    • Hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh: Hướng dẫn thống nhất cách áp dụng Khoản 3 Điều 336 BLDS 2015, khắc phục triệt để tình trạng tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng do sự nhầm lẫn giữa bảo lãnh có tài sản và thế chấp tài sản của người thứ ba.
    • Hoàn thiện quy định về thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm: Xây dựng cơ chế pháp lý đồng bộ, bảo đảm quyền xử lý tài sản hợp pháp của NHTM khi khách hàng phát sinh nợ xấu.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng: NHTM cần rà soát quy trình nội bộ, tăng cường thẩm tra thẩm quyền ký kết của người đại diện doanh nghiệp (biên bản họp HĐQT/ĐHĐCĐ, rà soát báo cáo tài chính), nâng cao chất lượng thẩm định pháp lý và hiện trạng thực tế của tài sản bảo đảm.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình chuyển biến lập pháp về bảo đảm tiền vay tại Việt Nam từ năm 1989 đến Luật Các tổ chức tín dụng 2024: chuyển từ cơ chế bắt buộc thế chấp tài sản sang cơ chế tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng.
  • Chỉ ra các xung đột pháp lý cụ thể trong thực tiễn: sự bất cập giữa thuật ngữ "cầm cố sổ tiết kiệm" với bản chất "cầm cố số dư tiền gửi" theo Nghị định 21/2021/NĐ-CP; mâu thuẫn giữa yêu cầu thẩm định hiện trạng tài sản của TAND Tối cao tại Công văn 02/TANDTC-PC với quyền tự quyết quy trình tín dụng của NHTM theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN.
  • Đưa ra giải pháp chứng minh hiệu lực của hợp đồng bảo đảm do người đại diện doanh nghiệp xác lập vượt thẩm quyền thông qua việc HĐQT phê duyệt Báo cáo tài chính theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, dựa trên phân tích thực tế Bản án số 17/2019/KDTM-PT.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Khóa luận đã khắc phục khoảng trống nghiên cứu của các công trình trước đây (vốn chủ yếu dựa trên nền tảng pháp lý của BLDS 2005 và Nghị định 163/2006/NĐ-CP đã hết hiệu lực thi hành). Tác giả cập nhật toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn nghiệp vụ mới nhất gồm BLDS 2015, Luật Các tổ chức tín dụng 2024, Nghị định 21/2021/NĐ-CP, Nghị định 99/2022/NĐ-CP, Thông tư 06/2023/TT-NHNN, Hướng dẫn 25/HD-VKSTC cùng các giải đáp nghiệp vụ xét xử của Tòa án nhân dân tối cao.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào 3 biện pháp bảo đảm phổ biến nhất (cầm cố, thế chấp, bảo lãnh) trong quan hệ cho vay của NHTM, chưa phân tích chuyên sâu các hình thức cấp tín dụng khác (như bảo lãnh ngân hàng, chiết khấu, cho thuê tài chính) hoặc các biện pháp bảo đảm ít phổ biến; dữ liệu nghiên cứu thực chứng giới hạn trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng đánh giá tác động của Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2024) đối với quyền thu giữ tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng; nghiên cứu so sánh kinh nghiệm lập pháp quốc tế về đăng ký và xử lý quyền bảo đảm đối vật không chiếm giữ (non-possessory security interests).

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên, học viên ngành Luật và Tài chính - Ngân hàng: Tài liệu cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh, cách tiếp cận so sánh lập pháp và phương pháp phân tích các xung đột thực tế giữa hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm.
  • Đối với cán bộ pháp chế, cán bộ quản trị rủi ro và chuyên viên tín dụng tại NHTM: Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực về kỹ năng rà soát thẩm quyền ký kết hợp đồng của khách hàng doanh nghiệp, kỹ thuật mô tả tài sản bảo đảm và cách thức phòng ngừa rủi ro hợp đồng bảo đảm bị tuyên vô hiệu.
  • Đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư: Các lập luận về xác định điều kiện ngay tình của bên nhận thế chấp theo Điều 133 BLDS 2015 và phân biệt quan hệ bảo lãnh với thế chấp tài sản người thứ ba có giá trị tham khảo cao trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao trong 9 biện pháp bảo đảm của BLDS 2015, hoạt động cho vay tại NHTM chỉ áp dụng phổ biến 3 biện pháp là cầm cố, thế chấp và bảo lãnh?

Xuất phát từ bản chất pháp lý và tính chất của quan hệ tín dụng ngân hàng:

  • Ký cược chỉ áp dụng cho hợp đồng thuê động sản; tín chấp không có giá trị bảo đảm bằng tài sản nên chỉ dùng cho chính sách người nghèo; đặt cọc không phù hợp với giai đoạn cho vay; ký quỹ phong tỏa tài sản là tiền không tối ưu hóa vốn; bảo lưu quyền sở hữu chỉ dùng trong quan hệ mua bán; cầm giữ tài sản chỉ phát sinh trong hợp đồng song vụ chiếm giữ tài sản.
  • Chỉ có cầm cố, thế chấp (bảo đảm đối vật có tài sản xử lý trực tiếp) và bảo lãnh (bảo đảm đối nhân mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm thanh toán) mới đáp ứng được yêu cầu bảo đảm an toàn thu hồi nợ vay của NHTM.

2. Nghị định 21/2021/NĐ-CP và NHNN điều chỉnh vấn đề cầm cố sổ tiết kiệm trong hoạt động cho vay tại NHTM như thế nào?

  • Nghị định 21/2021/NĐ-CP (Điều 13, 27, 54) chuẩn hóa đối tượng bảo đảm là "số dư tiền gửi" thay cho cụm từ "cầm cố sổ/thẻ tiết kiệm", bởi thẻ tiết kiệm chỉ là chứng chỉ chứng nhận quyền sở hữu tiền gửi chứ không phải tài sản độc lập theo BLDS.
  • Để phòng ngừa rủi ro "tín dụng ma" và làm giả chứng từ, NHNN đã ban hành Công văn số 7031/NHNN-TTGSNH yêu cầu các NHTM khi cho vay cầm cố số dư tiền gửi bắt buộc phải thẩm định và tuân thủ nghiêm ngặt phương án sử dụng vốn vay theo quy định tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN.

3. NHTM cần đáp ứng điều kiện gì để được xem là người thứ ba ngay tình khi nhận thế chấp tài sản mà giao dịch chuyển nhượng trước đó bị vô hiệu?

  • Theo Công văn số 64/TANDTC-PC, thế chấp được coi là giao dịch chuyển giao tài sản có điều kiện thuộc phạm vi áp dụng của Điều 133 BLDS 2015.
  • Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Công văn số 02/TANDTC-PC, để được công nhận là ngay tình, NHTM phải thực hiện thẩm định thực tế hiện trạng tài sản. Nếu ngân hàng không kiểm tra thực tế dẫn đến việc không biết người chuyển nhượng trước đó vẫn đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản thì ngân hàng không được coi là ngay tình và hợp đồng thế chấp vẫn bị tuyên vô hiệu.

4. Tiêu chí pháp lý để phân biệt quan hệ bảo lãnh và quan hệ thế chấp tài sản của người thứ ba theo BLDS 2015 và Hướng dẫn số 25/HD-VKSTC là gì?

  • Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân, người bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ thay; theo Khoản 3 Điều 336 BLDS 2015, các bên có thể dùng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh này.
  • Thế chấp tài sản của người thứ ba là biện pháp bảo đảm đối vật trực tiếp cho khoản vay của bên vay (Khoản 3 Điều 4 Nghị định 21/2021/NĐ-CP).
  • Theo Hướng dẫn số 25/HD-VKSTC, cơ quan tiến hành tố tụng không căn cứ vào tên gọi hình thức của hợp đồng mà phải phân tích nội dung thỏa thuận và ý chí thực tế của các bên để xác định quan hệ pháp luật và công nhận hiệu lực hợp đồng.

5. Tòa án xử lý như thế nào đối với hợp đồng bảo đảm do người đại diện doanh nghiệp ký kết khi chưa có Nghị quyết HĐQT qua vụ án thực tế Bản án 17/2019/KDTM-PT?

Trong vụ án tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP AC và ông Nguyễn Tuấn A (liên quan Công ty TN và Công ty B&B), Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm TP. Hà Nội xác định hợp đồng bảo đảm vẫn có hiệu lực pháp luật. Căn cứ đưa ra là trong các kỳ họp ĐHĐCĐ thường niên tiếp theo, HĐQT của doanh nghiệp đã thông qua các Báo cáo tài chính phản ánh chi tiết tài sản thế chấp theo quy định tại Điều 49 Thông tư 200/2014/TT-BTC. Điều này chứng minh các thành viên HĐQT và người quản lý công ty đã biết hoặc phải biết về giao dịch bảo đảm mà không có ý kiến phản đối.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Quang Anh đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận cùng thực trạng pháp luật điều chỉnh các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay tại ngân hàng thương mại. Thông qua việc phân tích sâu sắc các bất cập thực tiễn trong áp dụng biện pháp cầm cố số dư tiền gửi, thế chấp tài sản liên quan đến người thứ ba ngay tình và thẩm quyền giao kết của doanh nghiệp, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn. Đề tài đóng góp thiết thực vào việc nâng cao an toàn pháp lý cho hoạt động cấp tín dụng và hạn chế rủi ro tranh chấp cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.