MỞ ĐẦU: NHÌN CHUNG NEN VĂN HỌC VIỆT NAM QUA CAC THỜI KÌ LỊCH SỬ 1. Tiêu để Do người soạn sách đặt tiêu dé. Tiêu để đặt ra sát hợp với toàn bộ nội dung bài học. Bố cục Bố cục của văn bản trong SGK rõ ràng và hợp lí, có chia đoạn phù hợp với từng nội dung.
Gồm có 3 phan sau: ø Các thành phần cấu tạo của nền VHVN: Nội dung của phần này là những nhận định về cd cấu toàn bộ nén VH. Có 3 nội dung, mỗi nội dung được phân định bằng một đoạn văn. - Mối quan hệ giữa VHDG va van học viết. e Các thời kỳ phát triển: 2 nội dung.
- Phân biệt lịch sử VH với các môn lịch sử khác ở đối tượng nghiên cứu khác nhau của chúng. - Chia lịch sử VHVN thành 3 thời kì lớn xét từ thế ki X_ 1975; + Thế kỉ X _ XIX. + Đầu thế ki XX _ CMTS. e Mấy nét đặc sắc truyền thống của VHVN: Gém các nội dung.
+ Lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc. + Tình yêu thiên nhiên. + Tinh thần lac quan, + Tinh cảm thẩm mĩ. + Thể loại VH.
Hệ thống câu hỏi Câu hỏi sát với nội dung bài học. Những câu hỏi này yêu cầu HS chuẩn bị bài ở nhà kĩ càng trước khi đến lớp. Ưu điểm của hệ thống câu hỏi này là đòi hỏi HS đọc kĩ bài để nắm được nội dung lí thuyết đồng thời cũng nhầm khơi dậy được hứng thú học tập của các em, giúp các em có ý thức củng cổ những kiến thức đã nhận được ở những lớp dưới thông qua việc chứng minh những nhân định van học bằng những tác phẩm cụ thể. SVTH: Lê Thị Minh Huệ Trang 12 “Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:PGS.
Thực tế giảng dạy Kiến thức cần cung cấp của bài học này tương đối nhiều, đây không chi là những kiến thức các em can nắm được trong năm học lớp 10 mà là những kiến thức tổng hợp cho cả 3 năm ở bậc PTTH. Chính vì vậy, theo phân phối chương trình của Bộ Giáo Dục, bài này được day trong 2 tiết là tương đối hợp lí. Tuy nhiên, như đã nói, đây là những kiến thức được trình bày ở dạng tổng hợp, việc khắc sâu kiến thức cho HS ngay vào lúc này là khó có thể thực hiện mà GV chỉ có thể sơ bộ hình thành trong đâu các em lịch sử nền văn học qua các thời kì. Và những kiến thức ấy sẽ được khấc sâu trong suốt 3 năm HS được học ở nhà trường PTTH.
Chính vì vậy, để giờ học đạt hiệu quả cao. người GV nên tránh lối thuyết giảng khô khan mà nên cho HS chuẩn bị bài ở nhà và cho các em thảo luận trên lớp theo từng nhóm, từng tổ sau đó GV sẽ chốt lại vấn để. Giờ thảo luận sẽ khấc sâu kiến thức cho HS. Dưới đây sé đi vào khảo sát từng bài cu thể của phần VHDG và văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX được trích tuyển trong SGK Văn học 10 chỉnh lí hợp nhất ndm 2000.
SVTH: Là Thị Minh Huệ Trang 13 _Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:PGS. Trinh Sâm VĂN HỌC DAN GIAN NHẬN XÉT CHUNG VỀ MẢNG VĂN HỌC ĐÂN GIAN Ở SÁCH GIÁO KHOA LỚP 10 PTTH Ở bậc THCS, văn học dân gian được rải đều ở lớp 6 và lớp 7. Ở bậc PTTH, văn học dân gian lại chỉ được tập trung vào SGK lớp 10. Nếu như phan VHDG ở lớp 6 và lớp 7 được học xen với phan VH Việt Nam hiện đại và phan VHDG nước ngoài, thi phan VHDG ở PTTH không học xen mà học theo tiến trình văn học sử Việt Nam.
Mảng VHDGở lớp 10 PTTH có những ưu điểm sau - Ở chương trình SGK môn văn lớp 10 PTTH, phần VHDG không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản mà còn cung cấp kiến thức có tính hệ thống vé VHDG. Phan VHDG trong chương trình SGK lớp 10 có được vị trí thích đáng, cân đối trong toàn bộ cơ cấu chương trình, đã khắc phục được tình trạng * nhất bên trọng, nhất bên khinh" giữa phần văn học viết với VHDG trong kết cấu chương trình trước đây. - Ở SGK văn 10, các thể loại VHDG được dạy _ học từ bài khái quát giới thiệu chung rồi sau đó mới tới trích giảng tác phẩm. - Ưu điểm lớn của SGK chỉnh lí hợp nhất năm 2000 là đã không chỉ giới thiệu VHDG dân tộc người Việt mà còn chú trọng giới thiệu các thể loại tiêu biểu của các dan tộc ít người khác.
- Chương trình có các bài và loại thể sau: + Đại cương về VHDG. + Khái quát về thể loại sử thi, truyện cổ tích, truyện thơ, ca dao_ dân ca. Điều này chứng tỏ các thể loại như sử thi, truyện thơ, truyện cổ tích, ca dao- dân ca có một tẩm quan trọng trong VHDG. Các thể loại không được dạy trong chương trình VHDG ở bậc PTTH là tục ngữ, vé câu đố, truyền thuyết lịch sử, vì những thể loại này đã được học ở cấp dưới và thời lượng cũng không cho phép.
- Về kết cấu bài học: + Đơn vị chính của bài học là thể loại chứ không chỉ là các tác phẩm cụ thể. + Trừ bài đại cương về VHDG, bài học được trình bày theo bố cục: khái niệm về thể loại_ trích giảng _ đọc thêm, Các tác phẩm được trích trong phan trích giảng và đọc thêm đều có phan tiểu dẫn, chú thích và hướng dẫn học bai. Như vậy, SGK hiện nay có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức. Điều đó thể hiện ở chỗ VHDG có vị trí khá lớn và quan trọng trong chương trình VH lớp 10.
Không những thế, kiến thức VHDG được soạn thảo ngày càng hoàn chỉnh để HS không chỉ nấm được những kiến thức cơ bản về VHDG mà còn có được sự hứng thú trong việc tìm hiểu văn học văn hóa dân tộc. Những hạn chế SVTH: Là Thị Minh Huệ Trang 14 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:PGS. Trịnh Sâm - Cần đưa một tỉ lệ hợp lý những tác phẩmVHDG của các dân tộc ít người vào sách giáo khoa. Hiện nay, SGK của chương trình hợp nhất năm 2000 có đưa những tác phẩm VHDG của các dân tộc ít người vào bài học song số lượng chưa đáng kể, đúng mức.
Da số những tác phẩm này chỉ được đọc thêm. - Khi đưa tác phẩm VHDG của dân tộc ít người vào SGK cẩn mở rộng thêm phan tiểu dẫn. Vì đó là tác phẩm của dân tộc ít người, phần lớn học sinh khó nắm bắt được nếp cảm, nếp nghĩ của họ. Do đó học sinh khó có thể hiểu được chiều sâu của tác phẩm.
Dưới đây là những khảo sát về SGK, SGV và thực tế giảng day đối với từng bài, từng thể loại VHDG cụ thể được trích giảng trong SGK lớp 10 chỉnh lí hợp nhất năm 2000. SVTH: Lê Thị Minh Huệ Trang 15 Luận Văn Tốt Nghiệ GVHD:PGS. Trịnh Sâm ĐẠI CƯƠNG VỀ VHDG 1.Tiêu đề Tiêu để do người soạn đặt, tiêu để này thỏa mãn 3 yêu cấu cơ bản của tiêu để VB. đó là rõ rang, cô đúc và chính xác.
Bố cục e VHDG là những sáng tác văn học của quần chúng nhân dân: Gồm 2 nội dung: - Sự phát sinh, phát triển của VHDG. - Người sáng tác VHDG. e VHDG là những sáng tác vô danh và truyền miệng: - Cách thức sáng tác của VHDG: VHDG là những sáng tác vô danh và qua quá trình lưu truyền đã để lại nhiều dị bản. Ở phẩn này, SGK đã trình bày tương đối đẩy đủ và rõ hiểu, HS dễ dàng tiếp nhận.
Tuy nhiên, khi nói về dị bản, thiết nghĩ SGK cần có những ví dụ cụ thể để HS dễ dàng quan sát mà những ví dụ này SGV đã t nh bày tương đối đẩy đủ. - VHDG được lưu giữ bằng con đường truyền miệng và mang 2 đặc điểm quan trọng: + VHDG là tiếng nói chung của một cộng đồng. + Những " truyền thống” của VHDG. Từ hai đặc điểm này, SGK đã trình bày về motip trong VHDG và cũng giới thiệu cho HS cách thức tìm hiểu VHDG, đó là phương pháp tìm hiểu những nhóm tác phẩm giống nhau.
Có thể nói, đúng như SGV nhận xét, cách trình bay và phân tích VH này là khá mới đối với HS, cũng chính từ đó gợi sự hứng thú để HS tự chiếm lĩnh trí thức và giúp HS phát hiện ra cái hay riêng của VHDG. Ở mục này cả SGK va SGV viết khá rõ ràng va dễ hiểu. Rất tiếc, ở 2 nội dung sau SGV hoàn toàn không dé cập tới. e Những đặc điểm vé ngôn ngữ và phương pháp nghệ thuật của VHDG: Gồm 2 nội dung.
Ngôn ngữ của VHDG là ngôn ngữ nói. Đây chính là điểm phân biệt với ngôn ngữ viết. Cách nhận thức và phản ánh hiện thực của VHDG: Phản ánh hiện thực cuộc sống một cách kì ảo. Như vậy, xét về nội dung của bài học, những nội dung được đưa vào SGK để cung cấp cho HS là chuẩn xác và đầy đủ, Xét về mặt phong cách, văn bản được soạn theo đúng phong cách khoa học.
Cách phân đoạn rd ràng, mạch lạc dé hiểu, câu viết đúng ngữ pháp. Vẻ tiêu để của mục có điểm cần xem lại. Ở tiêu để có nhắc tới khái niệm ~ phương pháp nghệ thuật của VHDG", Vậy phương pháp nghệ thuật là gì? Khái niệm này thật trừu tượng đối với HS. Nếu có sự giải thích của GV cho HS thì cũng rơi vào sự SVTH: Là Thị Minh Huệ Trang 16 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:PGS.
Trịnh Sâm áp dat. Nên chăng có cách đặt tiêu để khác để dễ hiểu hơn đối với HS và sát hơn với nội dung bài học? Ở đây xin mạo muội để xuất cách đặt tiêu để là: Những đặc điểm về ngôn nạữ và phương pháp nhận thức, phan ảnh của VHDG © Vị trí của VHDG trong đời sống văn hóa và trong lich sử văn hóa dan tộc. e Những thể loại chính của VHDG VN: - Thần thoại. - Sử thi dan gian.
- Truyện cổ tích. - Truyện cười dân gian. - Truyện ngụ ngôn. - Ca dao _ dân ca.
- Các thể loại sân khấu. Nhìn chung, những thể loại chính của VHDG VN được SGK giới thiệu khá phong phú và đẩy đủ. Ở một số thể loại còn có sự phân loại để HS nắm được. Tuy nhiên, hdu như các thể loại này chưa có ví dụ cụ thé để HS tìm hiểu.
Mà khi giới thiệu những thể loại chính của VHDG Việt Nam, việc trình bày ví dụ là rất cẩn thiết.