CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại 1. Sự hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại Từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ XVII là giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện các nghiệp vụ ngân hàng thương mại, như ghi chép sổ sách, hình thành các số hiệu tài khoản, thanh toán giữa các ngân hàng, nghiệp vụ bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu,… Cho đến thế kỷ thứ XVII, các nghiệp vụ của một ngân hàng kinh doanh đã hoàn thiện bao gồm: (1) Nhận gửi và cho vay; (2) chiết khấu thương phiếu; (3) chuyền ngân, thanh toán bù trừ và bảo lãnh. Động lực chủ yếu của quá trình phát triển này là sự mở rộng nhanh chóng của hoạt động thương mại trong phạm vi một nước cũng như giữa các quốc gia.
Những đòi hỏi về nguồn vốn bổ sung, yêu cầu thanh toán, chuyển tiền của hệ thống doanh nghiệp tăng lên mạnh mẽ trong giai đoạn này và thúc đẩy sự ra đời của hệ thống ngân hàng thương mại; đầu tiên ở Hà Lan (1609), sau đó là ngân hàng Thụy Điển (1656), hệ thống ngân hàng Anh (1694) và ngân hàng Mỹ (1791)… Ngoài ra, cũng còn những yếu tố khác có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc và sự phát triển của hệ thống ngân hàng như: chế độ pháp quyền, điều kiện chiến tranh và tình trạng khủng hoảng kinh tế, tài chính… Những nghiệp vụ cơ bản của NHTM ở Việt Nam, trong bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mọi người tự do kinh doanh theo pháp luật được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp. Các doanh nghiệp không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật. Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hóa phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Từ năm 1986, hệ thống ngân hàng được tổ chức lại theo Nghị định 53/HĐBT được tách ra làm 2 cấp: Ngân hàng Nhà nước đảm nhận 3 công tác phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiên tệ, còn chức năng kinh doanh tiền được thực hiện bởi các NHTM.
Năm 1991, sự ra đời của các NHTMCP cùng các NHTM quốc doanh đã góp phần rất lớn vào công cuộc phát triển đất nước. Luật “Tổ chức tín dụng” của Việt Nam ban hành năm 2010 đã định nghĩa NHTM như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại NHTM là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng giống như một doanh nghiệp thương mại, đều hướng đến mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.
Khi nền kinh tế phát triển mạnh, các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng và phức tạp, để có hàng hóa kinh doanh, ngân hàng phải đưa ra một mức giá hợp lý cũng như đa dạng hóa các hình thức huy động. Nghiệp vụ huy động vốn: đây là một hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại. Ngân hàng nhận được các khoản tiền gửi của khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ngân hàng nhận tiền gửi của cá nhân, của tổ chức và các doanh nghiệp.
Ngân hàng phải hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đến rút tiền ở ngân hàng. Nghiệp vụ tín dụng: nguồn vốn huy động sau khi đã thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ (nghiệp vụ liên quan đến việc điều hành ngân quỹ của ngân hàng nhằm duy trì năng lực thanh toán bình thường), sẽ được sử dụng để cho vay. Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ đặc trưng nhất của Ngân hàng Thương mại. Nó tạo ra hình thức tín dụng ngân hàng và ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh.
Đối với ngân hàng, đây là nghiệp vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu. Nghiệp vụ đầu tư: Ngân hàng tham gia vào đầu tư, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứng 4 khoán và từ chêch lệch thị giá chứng khoán mua bán trên thị trường. Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện hùn vốn, liên doanh qua đó trực tiếp góp vốn vào các doanh nghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối: ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.
Việc mua bán ngoại tệ yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao do mức độ rủi ro cao. Vì vây, việc mua bán ngoại tệ thường được các ngân hàng lớn thực hiện Các hoạt động dịch vụ khác: chuyển tiền, bảo lãnh, nghiệp vụ ủy thác và tư vấn, thu chi hộ tiền hàng, mua bán hộ, cung cấp các dịch vụ đại lý,… 1. Chức năng của ngân hàng thương mại Chức năng trung gian tín dụng Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Đồng thời nó cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác. Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là người thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ. Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, đảm bảo được việc thanh toán an toàn. Qua đó, chức 5 năng này thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán.
Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại. Chức năng tạo tiền Tạo tiền là chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thương mại. Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính chất đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi dựa trên cơ sở chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, các NHTM sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Các nguồn huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Vốn chủ sở hữu Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, là lượng tiền mà ngân hàng phải có để hoạt động, là nguồn vốn riêng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại.
Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển thị trường. Nguồn vốn hình thành ban đầu: tùy theo tính chất mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, ngân sách nhà nước cấp. Nếu là ngân hàng cổ phần, các cổ đông đóng góp qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu.
Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh góp. 6 Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ sở hữu theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. Nguồn từ lợi nhuận: trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ sở hữu có xu hướng gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư. Tỷ lệ tích lũy tùy thuộc vào sự cân nhắc của chủ sở hữu Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm…để đáp ứng mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn do nhà nước quy định…Tuy nguồn vốn này không thường xuyên nhưng giúp cho ngân hàng có được lượng vốn khi cần thiết.
Các quỹ: quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ thặng dư, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng… Các quỹ này thuộc sở hữu của chủ ngân hàng.