Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động kinh doanh ngoại hối là một bộ phận có tính chất nhạy cảm cao trong hệ thống tài chính - ngân hàng do chịu tác động trực tiếp từ các biến động kinh tế, chính trị toàn cầu và gắn liền với hoạt động kinh tế đối ngoại của quốc gia. Sau gần 20 năm thi hành Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 cùng nhiều lần sửa đổi, bổ sung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này đã bộc lộ tính cồng kềnh, phức tạp và xuất hiện một số điểm chưa theo kịp thực tiễn phát triển của thị trường tài chính Việt Nam. Bước sang năm 2024 và đầu năm 2025, thị trường ngoại hối chịu sức ép lớn từ chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) và các biến động chính trị quốc tế, khiến tỷ giá USD/VND liên tục gia tăng. Đồng thời, việc Quốc hội thông qua Nghị quyết ngày 19/02/2025 điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 từ 8% trở lên, kết hợp với hiệu lực của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải rà soát, đánh giá toàn diện khung pháp lý về kinh doanh ngoại hối nhằm bảo đảm tính an toàn hệ thống và phục vụ tiến trình hội nhập quốc tế.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là cung cấp góc nhìn toàn diện, đa chiều về vấn đề kinh doanh ngoại hối ở Việt Nam hiện nay thông qua 03 nhiệm vụ cụ thể:
- Phân tích lý luận chung về ngoại hối và hoạt động kinh doanh ngoại hối dưới nhiều góc độ; làm rõ bản chất thị trường ngoại hối; đối chiếu khái niệm "ngoại hối" theo pháp luật Việt Nam với quy định của một số quốc gia (tiêu biểu là Hàn Quốc) và quan điểm của các tổ chức quốc tế (Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF).
- Phân tích toàn diện các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh hoạt động kinh doanh ngoại hối; khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật của các tổ chức tín dụng và cơ quan quản lý nhà nước; chỉ ra những kết quả đạt được cùng các tồn tại, hạn chế.
- Đề xuất các phương hướng và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kinh doanh ngoại hối tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh ngoại hối tại Việt Nam. Về phạm vi không gian, tác giả tập trung vào lãnh thổ Việt Nam, có mở rộng nghiên cứu đối chiếu quy định về giao dịch ngoại hối của Hàn Quốc để bổ trợ cho khung lý luận. Về phạm vi thời gian, đề tài nghiên cứu quá trình vận động của các quy định pháp luật từ khi hình thành đến thời điểm hoàn thành khóa luận (đầu năm 2025).
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khung pháp lý được tác giả sử dụng làm nền tảng phân tích gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các chuẩn mực, luật định quốc tế:
- Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 và Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 11/07/2013;
- Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;
- Luật Giao dịch ngoại hối Hàn Quốc (Foreign Exchange Transactions Act);
- Các nghị định của Chính phủ: Nghị định số 86/2019/NĐ-CP (quy định mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng), Nghị định số 70/2014/NĐ-CP, Nghị định số 219/2013/NĐ-CP, Nghị định số 88/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 143/2021/NĐ-CP và Nghị định số 23/2023/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng);
- Các thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Thông tư số 28/2016/TT-NHNN (sửa đổi Thông tư số 21/2014/TT-NHNN về phạm vi, điều kiện hoạt động ngoại hối), Thông tư số 02/2021/TT-NHNN (hướng dẫn giao dịch ngoại tệ), Thông tư số 06/2019/TT-NHNN (quản lý ngoại hối đối với hoạt động FDI), Thông tư số 05/2014/TT-NHNN (quản lý ngoại hối đối với hoạt động FII), Văn bản hợp nhất số 06/2023/VBHN-NHNN (quản lý ngoại hối hoạt động đầu tư ra nước ngoài), Thông tư số 48/2018/TT-NHNN và Quyết định số 2410/QĐ-NHNN (lãi suất tiền gửi USD 0%), Thông tư số 08/2023/TT-NHNN được sửa đổi bởi Thông tư số 19/2024/TT-NHNN (điều kiện vay nước ngoài tự vay, tự trả), Văn bản hợp nhất số 06/2019/VBHN-NHNN (cho vay bằng ngoại tệ).
Phương pháp luận của đề tài dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xem xét các quy định pháp luật trong mối liên hệ với hoàn cảnh kinh tế - xã hội và pháp luật quốc tế. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Làm rõ từng chế định pháp lý và cấu trúc thị trường ngoại hối;
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu kỹ thuật lập pháp về định nghĩa ngoại hối giữa Việt Nam, Hàn Quốc và IMF;
- Phương pháp kế thừa: Tiếp thu có chọn lọc các công trình nghiên cứu lý luận, thực tiễn trong nước (Phạm Quỳnh Trang 2012, Bùi Hoàng Hiệp 2023, Hoàng Thị Hảo 2012, Phạm Ngọc Khánh 2023, Trần Thị Hạnh Nguyên 2008) và quốc tế (Bridgette Laszlo 2024, Mathias Drehmann & Vladyslav Sushko 2022).
Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận gồm các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tài chính năm 2024 của 27 ngân hàng thương mại Việt Nam, số liệu thống kê của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), báo cáo chiến lược của Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), dữ liệu từ DNSE và các số liệu công bố chính thức từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về ngoại hối và pháp luật kinh doanh ngoại hối
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về ngoại hối, thị trường ngoại hối và pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh ngoại hối:
- Khái niệm ngoại hối: Dưới góc độ kinh tế học, ngoại hối là mọi phương tiện có khả năng thanh toán ở nước ngoài. Dưới góc độ luật thực định, khoản 1 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 07/2013/VBHN-VPQH quy định ngoại hối theo phương pháp liệt kê 5 thành phần (ngoại tệ; phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ; giấy tờ có giá bằng ngoại tệ; vàng thuộc dự trữ nhà nước, vàng trên tài khoản nước ngoài, vàng khối/thỏi/hạt/miếng xuất nhập khẩu; và đồng Việt Nam chuyển ra/vào lãnh thổ hoặc dùng trong thanh toán quốc tế). So sánh với khoản 13 Điều 3 Luật Giao dịch ngoại hối Hàn Quốc (liệt kê tinh gọn: phương tiện thanh toán quốc tế, chứng khoán, sản phẩm phái sinh, yêu cầu thanh toán bằng ngoại tệ) và định nghĩa rộng của IMF ("bất kỳ loại công cụ tài chính nào dùng để thanh toán giữa các quốc gia"), pháp luật Việt Nam mang tính ước lệ và thiên về mục đích quản lý nhà nước hơn là tính khái quát kinh tế.
- Khái niệm kinh doanh ngoại hối: Căn cứ khoản 20 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối 2005, đây là hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng được phép nhằm mục tiêu lợi nhuận, phòng ngừa rủi ro và bảo đảm an toàn, thanh khoản. Tác giả khái quát: Kinh doanh ngoại hối là việc các tổ chức tín dụng được cấp phép thực hiện các giao dịch liên quan đến ngoại hối trên thị trường ngoại hối nhằm mục đích sinh lợi.
- Đặc điểm của kinh doanh ngoại hối: Gồm 05 đặc trưng: (1) Chủ thể bị giới hạn nghiêm ngặt, chỉ gồm các tổ chức tín dụng được cấp phép; (2) Đối tượng giao dịch là ngoại hối và các dịch vụ ngoại hối được phép lưu thông; (3) Nơi diễn ra là thị trường ngoại hối toàn cầu vận hành 24/24 và có độ nhạy cảm cao; (4) Nội dung chủ yếu là kinh doanh ngoại tệ (chiếm tỷ trọng thu nhập lớn nhất), kinh doanh vàng và công cụ phái sinh tiền tệ; (5) Hình thức hoạt động đa dạng dựa trên công nghệ hiện đại và phải tuân thủ thông lệ quốc tế.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Hoạt động kinh doanh ngoại hối chịu sự chi phối của 03 nhóm yếu tố vĩ mô: Lãi suất (quyết định lợi tức nắm giữ và chi phí vay vốn); Tỷ lệ lạm phát (tác động trực tiếp đến sức mua của đồng nội tệ); Yếu tố chính trị (sự ổn định chính trị, thay đổi chính sách thuế quan và chi tiêu công làm thay đổi kỳ vọng của nhà đầu tư).
- Sự cần thiết của pháp luật điều chỉnh: Xuất phát từ 03 nguyên nhân: (1) Thị trường ngoại hối có quy mô khổng lồ (giao dịch toàn cầu đạt khoảng 7,5 nghìn tỷ USD/ngày vào năm 2022 theo báo cáo của BIS), tiềm ẩn rủi ro tỷ giá lớn có thể gây khủng hoảng kinh tế lan truyền như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 (giai đoạn 7-10/1997: đồng Baht Thái giảm 40%, Rupiah Indonesia giảm 40%, Won Hàn Quốc giảm 35%, Peso Philippines giảm 27%); (2) Ngân hàng thương mại là mắt xích nhạy cảm, sự đổ vỡ niềm tin có thể dẫn đến hiện tượng rút tiền hàng loạt; (3) Pháp luật tạo lập hành lang chuẩn mực để phát triển các công cụ phái sinh, cân bằng cung - cầu ngoại tệ và nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng nội địa.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kinh doanh ngoại hối ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng
Chương 2 phân tích hệ thống quy định thực định và đánh giá bức tranh thực tế áp dụng tại Việt Nam:
1. Thực trạng các quy định pháp luật:
- Chủ thể và điều kiện: Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, chỉ ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cấp phép mới được kinh doanh ngoại hối. Mức vốn pháp định theo Nghị định số 86/2019/NĐ-CP được phân cấp: ngân hàng thương mại là 3.000 tỷ đồng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 15 triệu USD, công ty tài chính là 500 tỷ đồng, công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng. Hoạt động ngoại hối chia thành "cơ bản" (khoản 6 Điều 6 Thông tư số 28/2016/TT-NHNN) và "khác". Điều kiện thực hiện hoạt động cơ bản quốc tế đòi hỏi đối tác nước ngoài phải có xếp hạng tín nhiệm tối thiểu: Moody’s từ Baa3/P-3, Standard & Poor's từ BBB-/A-3, hoặc Fitch Ratings từ BBB-/F3; tổng số dư tiền gửi tại các chi nhánh/công ty con ở nước ngoài không vượt quá 10% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại. Công ty tài chính muốn hoạt động quốc tế phải có lãi trong 01 năm liền kề.
- Các hình thức kinh doanh ngoại tệ: Theo Thông tư số 02/2021/TT-NHNN, thị trường triển khai 04 nghiệp vụ: Giao dịch giao ngay (Spot - thanh toán tối đa 02 ngày làm việc); Giao dịch kỳ hạn (Forward - thanh toán tối thiểu 03 ngày làm việc, kỳ hạn tối đa giữa VND và ngoại tệ là 365 ngày); Giao dịch hoán đổi (Swap - kết hợp giữa mua và bán cùng số lượng tiền tệ tại hai thời điểm khác nhau); Giao dịch quyền chọn (Option - mua quyền chọn mua hoặc bán theo tỷ giá xác định).
- Dịch vụ thanh toán, hỗ trợ đầu tư: Phân tách theo hình thức đầu tư trực tiếp (FDI - Thông tư số 06/2019/TT-NHNN mở tài khoản DICA), đầu tư gián tiếp (FII - Thông tư số 05/2014/TT-NHNN mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng VND), và đầu tư ra nước ngoài (Văn bản hợp nhất số 06/2023/VBHN-NHNN phải đăng ký giao dịch ngoại hối với Ngân hàng Nhà nước).
- Huy động và cấp tín dụng ngoại tệ: Quy định lãi suất tiền gửi USD ở mức 0% theo Quyết định số 2410/QĐ-NHNN nhằm chống đô la hóa. Vay nợ nước ngoài tự vay tự trả (Thông tư số 08/2023/TT-NHNN sửa đổi bởi Thông tư số 19/2024/TT-NHNN) khống chế dư nợ vay ngắn hạn tối đa bằng 30% vốn tự có đối với ngân hàng thương mại và 150% đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài/TCTD khác. Cho vay ngoại tệ trong nước (Văn bản hợp nhất số 06/2019/VBHN-NHNN) chỉ giới hạn trong 04 nhóm nhu cầu: nhập khẩu hàng hóa dịch vụ xuất khẩu qua biên giới; nhập khẩu xăng dầu đầu mối; nhu cầu vốn trong nước thực hiện xuất khẩu qua biên giới; và dự án đầu tư ra nước ngoài do Quốc hội/Thủ tướng quyết định chủ trương.
- Cơ chế điều hành tỷ giá: Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm hàng ngày và duy trì biên độ dao động +/-5% áp dụng từ ngày 17/10/2022. Trong 3 tháng đầu năm 2025, tỷ giá trung tâm tăng 454 đồng (gần bằng mức tăng 487 đồng của cả năm 2024), phản ánh sự điều chỉnh linh hoạt nhằm giảm áp lực lên dự trữ ngoại hối.
- Xử lý vi phạm: Nghị định số 88/2019/NĐ-CP (sửa đổi năm 2021, 2023) quy định mức phạt tiền tối đa đến 500 triệu đồng cùng hình phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động ngoại hối, tịch thu tang vật (ngoại tệ, vàng, tiền đồng).
2. Thực tiễn áp dụng pháp luật:
- Kết quả đạt được: Ngân hàng Nhà nước duy trì lãi suất thấp hỗ trợ kinh tế, kéo lãi suất cho vay mới năm 2024 giảm 0,44% so với năm 2023. Toàn ngành ngân hàng ghi nhận tổng lãi thuần kinh doanh ngoại hối đạt 25.668 tỷ đồng (tăng 10% so với năm 2023, quy mô lãi ròng toàn ngành tăng 2.320 tỷ đồng), có 11/27 ngân hàng tăng trưởng dương. Cơ quan chức năng cũng xử lý triệt để các sàn ngoại hối trái phép, điển hình là chuyên án triệt phá đường dây lừa đảo đầu tư ngoại hối "Mr Pips" (Phó Đức Nam) cuối năm 2024 với tài sản ước tính hơn 5.200 tỷ đồng.
- Tồn tại, hạn chế: Năm 2024, tỷ giá USD/VND giao ngay tăng 5,01%, Ngân hàng Nhà nước phải bán ước tính 9,35 tỷ USD dự trữ ngoại hối (theo báo cáo SHS), đưa quy mô dự trữ về mức cận kề 3 tháng nhập khẩu theo khuyến nghị của IMF, gây sức ép lên cung tiền hệ thống. Công tác quản lý dòng vốn FDI bộc lộ vướng mắc do cách ghi tiến độ góp vốn trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không đồng nhất; sự phức tạp khi theo dõi dòng vốn đầu tư và vốn vay trên cùng một tài khoản DICA; và rủi ro từ quy định cho phép chuyển vốn, lợi nhuận FDI ra nước ngoài dưới dạng giao dịch vãng lai mà không buộc xuất trình chứng từ chứng minh nghĩa vụ thuế.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh ngoại hối tại Việt Nam
Khóa luận xác lập 03 định hướng hoàn thiện: (1) Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước; (2) Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành (đặc biệt là Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024) và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế; (3) Đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở đó, tác giả nêu các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quản lý ngoại hối đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài, sửa đổi chế tài xử phạt hành chính nhằm nâng cao tính răn đe, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra và nâng cao tính linh hoạt của các công cụ điều hành chính sách tiền tệ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận tổng hợp các số liệu thực chứng về kết quả kinh doanh ngoại hối năm 2024 của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam thông qua Bảng 1:
| STT |
Ngân hàng |
Lãi thuần KDNgoại hối năm 2024 (Tỷ đồng) |
Lãi thuần KDNgoại hối năm 2023 (Tỷ đồng) |
Biến động (%) |
| 1 |
BIDV |
5.360 |
4.707 |
+14% |
| 2 |
Vietcombank |
5.292 |
5.660 |
-7% |
| 3 |
VietinBank |
4.190 |
4.248 |
-1% |
| 4 |
MB |
2.000 |
1.210 |
+65% |
| 5 |
ACB |
1.171 |
1.110 |
+5% |
| 6 |
Sacombank |
1.107 |
1.100 |
+1% |
| 7 |
MSB |
1.056 |
1.072 |
-1% |
| 8 |
HDBank |
844 |
565 |
+49% |
| 9 |
VPBank |
827 |
-806 |
+203% |
| 10 |
Eximbank |
674 |
486 |
+39% |
Các kết quả thực chứng và đóng góp chủ yếu của công trình gồm:
- Dữ liệu thực tiễn: Phản ánh sự phân hóa trong kết quả kinh doanh của 27 ngân hàng thương mại với tổng lãi thuần đạt 25.668 tỷ đồng; chỉ ra thực trạng can thiệp tỷ giá làm giảm 9,35 tỷ USD dự trữ ngoại hối trong năm 2024 và mức điều chỉnh tăng 454 đồng của tỷ giá trung tâm trong những tháng đầu năm 2025;
- Giải pháp lập pháp: Đề xuất điều chỉnh các văn bản hướng dẫn dưới luật để đồng bộ với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; khắc phục khoảng trống pháp lý trong quản lý tài khoản vốn đầu tư trực tiếp (DICA) và siết chặt kiểm soát nghĩa vụ thuế khi chuyển tiền ra nước ngoài; tăng mức phạt tiền đối với hành vi kinh doanh ngoại hối không phép để tương xứng với lợi ích bất chính thu được;
- Đóng góp học thuật: So sánh cấu trúc khái niệm ngoại hối giữa Việt Nam, Hàn Quốc và chuẩn mực IMF, chỉ ra tính chất ước lệ của khái niệm ngoại hối trong luật thực định Việt Nam; cập nhật bức tranh pháp lý - thực tiễn kinh doanh ngoại hối tại thời điểm năm 2024 - 2025 thay thế cho các nghiên cứu trước đó đã hết hiệu lực văn bản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và hoạt động của các ngân hàng thương mại, chưa đi sâu vào thị trường vàng phái sinh và các công cụ tài chính quốc tế phức tạp khác. Về phạm vi luật so sánh, nghiên cứu chỉ giới hạn ở việc đối chiếu quy định với Luật Giao dịch ngoại hối của Hàn Quốc.
Hướng mở tiếp theo của đề tài là nghiên cứu xây dựng Luật Ngoại hối thay thế Pháp lệnh Ngoại hối hiện hành; hoàn thiện khung pháp lý quản lý các mô hình sàn giao dịch ngoại hối trực tuyến xuyên biên giới và công nghệ tài chính (Fintech) trong hoạt động kiều hối và thanh toán quốc tế.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tư liệu hữu ích cho sinh viên, học viên và nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế và Tài chính - Ngân hàng.
Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:
- Hệ thống hóa các điều kiện và tiêu chuẩn kỹ thuật đối với ngân hàng thương mại khi giao dịch ngoại hối quốc tế (chuẩn mực xếp hạng Moody’s, S&P, Fitch) theo Thông tư số 28/2016/TT-NHNN;
- Quy định chi tiết về 04 loại hợp đồng giao dịch ngoại tệ (Spot, Forward, Swap, Option) tại Thông tư số 02/2021/TT-NHNN;
- Bảng số liệu so sánh kết quả kinh doanh ngoại hối năm 2023 - 2024 của Top 10 ngân hàng thương mại và bức tranh điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong bối cảnh vĩ mô 2024 - 2025.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "ngoại hối" trong pháp luật Việt Nam có điểm gì khác biệt so với luật pháp Hàn Quốc và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)?
Khoản 1 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 07/2013/VBHN-VPQH của Việt Nam sử dụng phương pháp liệt kê chi tiết 5 nhóm tài sản, mang tính ước lệ và phục vụ mục tiêu quản lý nhà nước. Ngược lại, khoản 13 Điều 3 Luật Giao dịch ngoại hối Hàn Quốc định nghĩa tinh gọn hơn với 4 nhóm công cụ, mang tính khái quát cao hơn. Trong khi đó, IMF đưa ra định nghĩa mang bản chất kinh tế rộng nhất: bất kỳ công cụ tài chính nào được sử dụng để thanh toán giữa các quốc gia.
2. Để thực hiện hoạt động ngoại hối cơ bản trên thị trường quốc tế, ngân hàng thương mại Việt Nam phải đáp ứng những điều kiện gì về đối tác nước ngoài?
Theo Điều 9 Thông tư số 28/2016/TT-NHNN, tổ chức đối tác nước ngoài nhận tiền gửi (không phải tiền gửi thanh toán) phải có hệ số xếp hạng tín nhiệm tối thiểu từ mức Baa3/P-3 của Moody’s, hoặc BBB-/A-3 của Standard & Poor's, hoặc BBB-/F3 của Fitch Ratings. Ngoài ra, tổng số dư tiền gửi tại các chi nhánh, công ty con ở nước ngoài không được vượt quá 10% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại đó.
3. Khách hàng là người cư trú được tổ chức tín dụng cho vay bằng ngoại tệ trong những trường hợp cụ thể nào?
Theo Điều 3 Văn bản hợp nhất số 06/2019/VBHN-NHNN, chỉ có 04 trường hợp được xem xét: (1) Vay ngắn hạn thanh toán nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ phục vụ sản xuất xuất khẩu qua biên giới Việt Nam; (2) Doanh nghiệp đầu mối vay ngắn hạn nhập khẩu xăng dầu theo hạn mức của Bộ Công Thương; (3) Vay ngắn hạn đáp ứng nhu cầu vốn trong nước phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu qua biên giới; (4) Vay thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài đã được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư.
4. Kết quả kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2024 diễn biến ra sao?
Tổng lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối của 27 ngân hàng đạt 25.668 tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2023. BIDV dẫn đầu thị trường với lãi thuần đạt 5.360 tỷ đồng (+14%), tiếp theo là Vietcombank đạt 5.292 tỷ đồng (-7%), VietinBank đạt 4.190 tỷ đồng (-1%), MB đạt 2.000 tỷ đồng (+65%), và VPBank phục hồi từ mức lỗ 806 tỷ đồng năm 2023 lên mức lãi 827 tỷ đồng năm 2024.
5. Những bất cập chính trong quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được chỉ ra là gì?
Các bất cập gồm: cách ghi tiến độ góp vốn trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không thống nhất gây khó theo dõi dòng vốn; việc theo dõi đồng thời dòng vốn đầu tư và dòng vốn vay trên cùng một tài khoản vốn đầu tư trực tiếp (DICA) gặp nhiều phức tạp; và quy định cho phép chuyển vốn, lợi nhuận ra nước ngoài như giao dịch vãng lai mà không bắt buộc xuất trình chứng từ chứng minh việc hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Nam Hải đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và phân tích sâu sắc thực trạng pháp luật về kinh doanh ngoại hối tại Việt Nam trong mối tương quan với các đạo luật mới ban hành như Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực chứng năm 2024 và đầu năm 2025, công trình đã làm nổi bật những kết quả khả quan trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, đồng thời chỉ rõ áp lực lên dự trữ ngoại hối và các khoảng trống pháp lý trong quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài. Các định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất mang tính đồng bộ, có giá trị đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế tài chính - ngân hàng và nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.