Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Xây dựng và vận dụng giáo án các loại hình hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử ở phổ thông (Chương trình lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản)" được tác giả Nguyễn Thị Thương thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Đào Thị Mộng Ngọc tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (niên khóa 2006 - 2010, bảo vệ tháng 4/2010).

Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí đặc thù của môn Lịch sử trong nhà trường phổ thông: đây là môn học giữ vai trò thiết yếu trong việc giáo dục trí tuệ, lý tưởng chính trị và đạo đức cho học sinh. Tuy nhiên, trên thực tế, môn Lịch sử thường bị xem là môn học phụ, dung lượng tiết dạy ít, dẫn tới việc chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng. Đặc thù nhận thức lịch sử đòi hỏi học sinh tiếp cận những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ cách xa hàng thế kỷ hoặc thiên niên kỷ, không thể quan sát trực tiếp, khiến người học dễ nảy sinh tâm lý mơ hồ, thụ động và chán nản.

Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra dựa trên các cơ sở pháp lý và văn kiện chính trị:

  • Văn kiện Hội nghị lần II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1997) khẳng định yêu cầu: "phải xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo".
  • Luật Giáo dục năm 1999 quy định phương pháp giáo dục phổ thông "phải phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh".

Mặc dù hoạt động ngoại khóa có chức năng bổ trợ quan trọng cho giờ học nội khóa, các trường phổ thông vẫn chưa đầu tư đúng mức; giáo viên lúng túng trong khâu tổ chức do thiếu tài liệu chỉ dẫn và hệ thống giáo án mẫu cụ thể.

Mục đích nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định thành 3 nhiệm vụ chính:

  1. Tìm hiểu và đánh giá đúng vai trò, tầm quan trọng của hoạt động ngoại khóa trong dạy học Lịch sử ở các trường Trung học phổ thông (THPT).
  2. Điều tra thực trạng sử dụng hoạt động ngoại khóa tại các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; từ đó phân tích nguyên nhân và đưa ra các giải pháp khắc phục.
  3. Trực tiếp xây dựng các giáo án ngoại khóa cho chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 (ban cơ bản) và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của giáo án trong thực tế giảng dạy.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy trình xây dựng, phương pháp vận dụng giáo án ngoại khóa và hiệu quả của các hình thức hoạt động ngoại khóa trong dạy học bộ môn Lịch sử.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế trên 13 trường THPT tại TP. Hồ Chí Minh (Lê Quý Đôn, Tân Bình, Bình Phú, Thanh Đa, Nguyễn Thái Bình, Lê Hồng Phong, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Du, Gia Định, Hùng Vương, THPT dân lập Hòa Bình...). Địa bàn thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại 2 trường: THPT Nguyễn Chí Thanh và THPT Nguyễn Hiền.
  • Phạm vi nội dung và thời gian: Dữ liệu điều tra thu thập trong 2 năm học; nội dung bài học giới hạn trong chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản (từ thời kỳ xã hội nguyên thủy đến thế kỷ XIX).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tổng hợp các cơ sở lý luận liên ngành để luận giải cho tính tất yếu của hoạt động ngoại khóa:

  • Cơ sở triết học (Nhận thức luận Mác - Lênin): Vận dụng luận điểm của V.I. Lênin trong Bút ký triết học về quy luật nhận thức: "từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng về thực tiễn". Hoạt động ngoại khóa cung cấp các hình ảnh trực quan sinh động (nhận thức cảm tính: cảm giác, tri giác, biểu tượng), làm tiền đề hình thành khái niệm và tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính). Tác giả trích dẫn quan điểm của nhà giáo dục học K.D. Ushinsky: "Cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của con người".
  • Cơ sở sinh lý học: Học thuyết phản xạ có điều kiện của I.P. Pavlov về hai hệ thống tín hiệu. Hệ thống tín hiệu thứ nhất tiếp nhận kích thích cảm tính qua các giác quan; hệ thống tín hiệu thứ hai xử lý các thông tin ngôn ngữ, khái niệm trừu tượng. Việc tiếp xúc hiện vật thực tế qua ngoại khóa kích hoạt hệ thống tín hiệu thứ nhất, quyết định chất lượng và độ bền vững của tri thức ở hệ thống tín hiệu thứ hai.
  • Cơ sở tâm lý - giáo dục học: Tác giả sử dụng các số liệu nghiên cứu về sự tiếp nhận và lưu giữ thông tin qua các giác quan do Tô Xuân Giáp công bố (1997, Phương tiện dạy học):
Kênh giác quan tiếp nhận tri thức Tỷ lệ (%) Phương thức ghi nhớ tri thức Tỷ lệ nhớ (%)
Nhìn (thị giác) 83% Những gì nghe được 20%
Nghe (thính giác) 11% Những gì nhìn được 30%
Ngửi (khứu giác) 3,5% Những gì nghe và nhìn được 50%
Sờ (xúc giác) 1,5% Những gì nói được 80%
Nếm (vị giác) 1% Những gì nói và làm được 90%

Công thức tính năng lực chuyển tải thông tin qua "rãnh chuyển tải": $C = H / T$ (với $C$ là năng lực chuyển tải, $H$ là lượng thông tin chuyển đi, $T$ là thời gian cần thiết để truyền đạt, đơn vị tính Bit/giây). Hiệu quả ghi nhớ bằng tri giác đạt mức 70%.

Tổng quan tình hình nghiên cứu được phân tích qua các công trình tiêu biểu:

  • Tác phẩm của Nguyễn Thị Côi: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở phổ thông và Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở phổ thông trung học (NXB ĐHQG Hà Nội, 1998) phân tích vai trò của bảo tàng nhưng chưa làm rõ thực trạng tổ chức bài học cụ thể tại trường học.
  • Giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử do Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ biên: đề cập đến các hình thức ngoại khóa nhưng thiếu bài học ngoại khóa mẫu.
  • Đề tài khảo sát của Ngô Minh Oanh về thực trạng đội ngũ giáo viên Lịch sử khu vực Đông Nam Bộ: mới dừng ở số liệu thống kê chung, chưa đưa ra giải pháp chuyên biệt.
  • Luận văn của Đỗ Thị Thanh Nhân và Nguyễn Thị Nghĩa (2008 - 2009): khảo sát thực trạng tại TP. Hồ Chí Minh nhưng giải pháp còn khái quát, chưa có công cụ hỗ trợ trực tiếp cho giáo viên đứng lớp.

Các phương pháp nghiên cứu được tác giả phối hợp thực hiện:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu (giáo trình, công trình chuyên khảo, văn bản pháp luật, sách giáo khoa).
  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic.
  • Phương pháp giáo dục học.
  • Phương pháp điều tra, quan sát, thống kê, phân tích, đối chiếu (sử dụng phiếu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi tự luận khảo sát giáo viên và học sinh).
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm (triển khai giáo án vào dạy học thực tế để kiểm tra giả thiết).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I. Tổng quan về hoạt động ngoại khóa

Chương I phân tích toàn diện nền tảng lý luận, thực tiễn và các quy trình triển khai hoạt động ngoài giờ lên lớp. Tác giả định nghĩa hoạt động ngoại khóa là chương trình học tập diễn ra ngoài nội dung chính khóa, dưới sự định hướng của giáo viên, mang tính chất tự nguyện nhằm củng cố, mở rộng kiến thức và phát triển kỹ năng hành động.

Về cơ sở thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh:

  • Mạng lưới bảo tàng và di tích thuận lợi: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, Bảo tàng TP. Hồ Chí Minh, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, Dinh Độc Lập, Địa đạo Củ Chi, Bến Nhà Rồng, Đền thờ Phan Chu Trinh; có các chính sách miễn, giảm vé cho học sinh đi theo đoàn.
  • Địa bàn tập trung trên dưới 200 trường THPT công lập và dân lập với điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất tương đối hoàn chỉnh; đối tượng học sinh THPT từ 16 - 18 tuổi có nhu cầu khám phá thực tế, có năng lực tự quản và làm việc nhóm.

Về nội dung và hình thức tổ chức: Nội dung ngoại khóa đi theo hai hướng: (1) Làm phong phú, sâu sắc kiến thức bài nội khóa (sự kiện tiêu biểu, nhân vật lịch sử, thành tựu văn hóa); (2) Tìm hiểu lịch sử địa phương và công tác công ích xã hội.

Tác giả hệ thống hóa nguyên tắc và cách tiến hành của các hình thức ngoại khóa:

  • Đọc sách lịch sử: Cá nhân tự đọc hoặc đọc chung trên lớp; lập danh mục sách theo các thời kỳ (thế giới cổ - trung đại, cận đại, hiện đại và Việt Nam); sử dụng mẫu bảng ghi chép sách (tên sách, thời gian, sự kiện cơ bản, điều thu nhận).
  • Kể chuyện lịch sử: Cấu trúc 5 phần (giới thiệu vấn đề, tình huống, diễn biến, cao trào, kết thúc); nhấn mạnh phương pháp mời nhân chứng lịch sử (chiến sĩ lão thành, thân nhân anh hùng).
  • Nói chuyện lịch sử: Báo cáo chuyên đề gắn với các dịp kỷ niệm lớn do giáo viên hoặc chuyên gia trình bày.
  • Trao đổi, thảo luận: Triển khai qua sinh hoạt lớp, báo tường hoặc hộp thư trao đổi nội bộ.
  • Tham quan lịch sử: Quy trình từ liên hệ thực địa, chuẩn bị nội dung, giới hạn thời gian tham quan trong 2 - 3 giờ, đến khâu đánh giá qua bài thu hoạch hoặc thảo luận.
  • Tìm hiểu lịch sử địa phương và làm báo tường lịch sử.

Chương II. Thực trạng và giải pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa ở một số trường THPT trên địa bàn TP. HCM

Chương II tập trung công bố và xử lý dữ liệu điều tra thực trạng, sau đó đề xuất các nhóm giải pháp và thiết kế hệ thống giáo án mẫu:

  • Thực trạng dạy học: Phân tích kết quả điều tra qua phiếu khảo sát học sinh (Phụ lục 7) và giáo viên (Phụ lục 6) tại 13 trường phổ thông. Thực tế cho thấy phương pháp dạy học trên lớp còn nặng về thuyết trình, học sinh học thụ động; việc tổ chức ngoại khóa còn rất hạn chế, mang tính đối phó hoặc bỏ trống do giáo viên thiếu thời gian, thiếu kinh phí và không có tài liệu giáo án hướng dẫn bài bản.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Đưa ra các kiến nghị đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học sư phạm, gia đình - xã hội và Ban giám hiệu các trường THPT trong việc điều chỉnh phân phối chương trình, cấp kinh phí, tập huấn kỹ năng và liên kết với các đơn vị di tích.
  • Thiết kế bộ giáo án ngoại khóa thực nghiệm: Tác giả xây dựng 3 giáo án chuyên biệt cho phần Lịch sử Việt Nam lớp 10 cơ bản (từ xã hội nguyên thủy đến thế kỷ XIX):
    1. Giáo án ngoại khóa Sử 1 (trang 93).
    2. Giáo án ngoại khóa Sử 2 (trang 105).
    3. Giáo án ngoại khóa Sử 3 (trang 113).

Chương III. Thực nghiệm sư phạm

Chương III trình bày quá trình áp dụng các giáo án đã soạn thảo vào môi trường dạy học thực tế:

  • Công tác chuẩn bị: Lập kế hoạch, thống nhất nội dung với nhà trường và giáo viên bộ môn tại các cơ sở thực nghiệm.
  • Địa bàn thực nghiệm: Triển khai giảng dạy thực nghiệm tại hai đơn vị: Trường THPT Nguyễn Hiền và Trường THPT Nguyễn Chí Thanh.
  • Đánh giá thực nghiệm: Tổng hợp kết quả phiếu khảo sát ý kiến giáo viên và phiếu khảo sát ý kiến học sinh sau các tiết học thực nghiệm. Các số liệu cho thấy mức độ tiếp thu bài học, tinh thần làm việc tập thể và sự hứng thú của học sinh đối với bộ môn Lịch sử được nâng lên rõ rệt so với các lớp đối chứng dạy theo phương pháp truyền thống trên lớp.

Kết quả và đóng góp

Văn bản ghi nhận các kết quả cụ thể:

  • Làm rõ cơ sở khoa học về sự tương tác giữa thị giác, thính giác và thực hành hành động trong dạy học lịch sử; chứng minh việc kết hợp nghe, nhìn và làm giúp nâng tỷ lệ nhớ kiến thức lên tới 90% (theo số liệu viện dẫn từ Tô Xuân Giáp).
  • Xác lập bức tranh thực trạng về việc tổ chức hoạt động ngoại khóa bộ môn Lịch sử tại 13 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2008 - 2010; chỉ ra rào cản cốt lõi nằm ở sự thiếu hụt các tài liệu hướng dẫn quy trình sư phạm cụ thể.
  • Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống 3 giáo án ngoại khóa chi tiết (từ trang 93 đến trang 121) cho phân môn Lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản.
  • Kiểm chứng thực nghiệm thành công tại THPT Nguyễn Hiền và THPT Nguyễn Chí Thanh, thu về kết quả phản hồi đồng thuận từ giáo viên dự giờ và phiếu khảo sát học sinh sau thực nghiệm.

Các nhóm giải pháp/kiến nghị được tác giả đề xuất:

  • Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần có cơ chế phân bổ thời lượng biểu linh hoạt, bổ sung hướng dẫn thực hiện hoạt động ngoài giờ lên lớp trong chuẩn kiến thức kỹ năng môn Lịch sử; bố trí nguồn kinh phí hỗ trợ hoạt động tham quan, dã ngoại.
  • Trường Đại học Sư phạm: Đưa nội dung rèn luyện kỹ năng tổ chức hoạt động ngoại khóa vào chương trình đào tạo sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử.
  • Trường THPT và Giáo viên: Khai thác hệ thống bảo tàng, di tích tại TP. Hồ Chí Minh; áp dụng linh hoạt các hình thức đọc sách, kể chuyện, thảo luận; thời lượng tham quan cần khống chế trong khoảng 2 - 3 giờ để bảo đảm sức khỏe và khả năng tập trung của học sinh; luôn có bài thu hoạch đánh giá sau hoạt động.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả tự khẳng định, trong khi các công trình đi trước (Nguyễn Thị Côi, Phan Ngọc Liên, Ngô Minh Oanh, Đỗ Thị Thanh Nhân) chỉ dừng lại ở việc nêu tầm quan trọng lý luận, khảo sát thực trạng diện rộng hoặc đưa giải pháp mang tính định hướng chung chung, thì khóa luận này đã giải quyết trực tiếp nhu cầu thực hành của giáo viên phổ thông bằng cách: thiết kế các giáo án ngoại khóa mẫu chi tiết cho từng bài học cụ thể trong chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản và kiểm nghiệm thực tế qua thực nghiệm sư phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài được xác định từ phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi xây dựng giáo án mới chỉ khu biệt trong khuôn khổ chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản (giai đoạn từ xã hội nguyên thủy đến thế kỷ XIX), chưa bao quát toàn bộ chương trình lớp 10 (chưa có phần Lịch sử thế giới).
  • Quy mô thực nghiệm sư phạm chỉ mới thực hiện tại 2 trường THPT (Nguyễn Chí Thanh và Nguyễn Hiền) trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các loại hình trường chuyên biệt, trường tại các huyện ngoại thành hoặc các tỉnh lân cận.
  • Mẫu khảo sát dù đạt 13 trường nhưng chỉ tập trung ở khu vực đô thị có sẵn hệ thống bảo tàng, di tích phát triển; chưa đánh giá thực trạng tại các khu vực thiếu thốn thiết chế văn hóa.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng việc thiết kế giáo án ngoại khóa cho toàn bộ chương trình Lịch sử cấp THPT (bao gồm các khối lớp 11, lớp 12 và chương trình nâng cao).
  • Triển khai thử nghiệm các mô hình giáo án ngoại khóa trên nhiều địa bàn khác nhau để kiểm tra tính thích ứng của phương pháp đối với các trường vùng nông thôn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử và học viên chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử: Có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa lý thuyết nhận thức luận, sinh lý học (Pavlov) và tâm lý học giáo dục vào việc thiết kế tiến trình dạy học.
  • Giáo viên Lịch sử tại các trường THPT: Trực tiếp sử dụng hệ thống hướng dẫn ở Mục IV, V Chương I để tổ chức các buổi đọc sách, kể chuyện lịch sử, hoặc khai thác hệ thống 3 giáo án ngoại khóa (trang 93, 105, 113) để áp dụng vào các tiết học ngoài giờ, tham quan di tích lịch sử trên địa bàn.

Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản:

  • Mục V Chương I (trang 40 - 58): Hướng dẫn cụ thể về kỹ thuật sư phạm đối với 6 hình thức ngoại khóa (kỹ thuật hướng dẫn đọc sách có bảng theo dõi, bố cục 5 bước của câu chuyện kể, phương pháp dẫn dắt tham quan 2 - 3 giờ).
  • Mục VI Chương II (trang 92 - 121): Toàn văn 3 kịch bản giáo án ngoại khóa Lịch sử lớp 10 ban cơ bản.
  • Phần tổng kết thực nghiệm Chương III: Phương pháp xây dựng phiếu hỏi và quy trình đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận dựa trên những luận cứ sinh lý học và tâm lý học nào để khẳng định sự cần thiết của hoạt động ngoại khóa?
Tác giả dựa vào học thuyết phản xạ có điều kiện của I.P. Pavlov về hai hệ thống tín hiệu, nhấn mạnh hệ thống tín hiệu thứ nhất (trực quan cảm tính) là nền tảng quyết định chất lượng của hệ thống tín hiệu thứ hai (tư duy trừu tượng). Đồng thời, tác giả dẫn số liệu của Tô Xuân Giáp (1997) chỉ ra con người tiếp nhận 83% tri thức qua thị giác, ghi nhớ 70% qua tri giác và nhớ tới 90% qua những gì "nói và làm được", cùng công thức chuyển tải thông tin $C = H/T$.

2. Đề tài đã khảo sát thực trạng trên bao nhiêu trường và chọn những trường nào để thực nghiệm sư phạm?
Đề tài tiến hành phát phiếu điều tra khảo sát giáo viên và học sinh tại 13 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (bao gồm: Lê Quý Đôn, Tân Bình, Bình Phú, Thanh Đa, Nguyễn Thái Bình, Lê Hồng Phong, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Du, Gia Định, Hùng Vương, THPT dân lập Hòa Bình...). Quá trình dạy thực nghiệm sư phạm được tiến hành trực tiếp tại 2 trường: THPT Nguyễn Chí Thanh và THPT Nguyễn Hiền.

3. Tác giả đã chỉ ra khoảng trống nghiên cứu nào từ các công trình đi trước?
Theo tác giả, các tác phẩm của Nguyễn Thị Côi (1998, 1999) hay Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị mới nêu vai trò lý thuyết hoặc chức năng của bảo tàng; đề tài của Ngô Minh Oanh khảo sát diện rộng về đội ngũ giáo viên mà chưa đề ra giải pháp cụ thể; luận văn của Đỗ Thị Thanh Nhân và Nguyễn Thị Nghĩa (2008 - 2009) đưa ra giải pháp còn chung chung. Chưa có công trình nào trực tiếp xây dựng hệ thống giáo án ngoại khóa chi tiết gắn liền với từng bài học cụ thể để giáo viên phổ thông tham khảo.

4. Khóa luận đã xây dựng cụ thể bao nhiêu giáo án ngoại khóa và dành cho phần chương trình nào?
Khóa luận xây dựng 3 giáo án ngoại khóa hoàn chỉnh: Giáo án ngoại khóa Sử 1 (bắt đầu từ trang 93), Giáo án ngoại khóa Sử 2 (trang 105) và Giáo án ngoại khóa Sử 3 (trang 113). Các giáo án này áp dụng cho phần Lịch sử Việt Nam từ thời kỳ xã hội nguyên thủy đến thế kỷ XIX thuộc chương trình Lịch sử lớp 10 ban cơ bản.

5. Đối với hình thức tham quan lịch sử, tác giả khuyến nghị thời lượng và cách thức tổ chức như thế nào?
Tác giả khuyến nghị thời gian cho một buổi tham quan bảo tàng hoặc di tích lịch sử nên giới hạn trong khoảng 2 đến 3 giờ để phù hợp với sức khỏe và khả năng tiếp nhận của học sinh THPT. Trước chuyến đi, giáo viên phải liên hệ trước với đơn vị quản lý, phổ biến mục đích, yêu cầu ghi chép cho học sinh; sau chuyến tham quan, kết quả phải được đánh giá thông qua hoạt động thảo luận hoặc yêu cầu học sinh viết bài thu hoạch.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thương đã giải quyết đồng bộ từ cơ sở nhận thức luận, sinh lý học, tâm lý giáo dục học đến khảo sát thực trạng việc dạy học ngoại khóa Lịch sử tại 13 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Điểm cốt lõi của công trình là việc chuyển hóa các giải pháp lý thuyết thành 3 bộ giáo án ngoại khóa mẫu phục vụ chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại hai trường THPT Nguyễn Hiền và Nguyễn Chí Thanh đã chứng minh tính khả thi của mô hình, mở ra phương thức giảng dạy trực quan nhằm nâng cao hứng thú và chất lượng học tập bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông.