Chương I. TONG QUAN VE HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOA Trong thời đại ngảy nay. hệ thông giáo dục Việt Nam đang được củng cô và ngảy một hoàn chỉnh hơn. Trong công tác đảo tạo thé hệ trẻ thi dao tạo con người ở bậc THPT là vô cùng quan trọng.
Nó như một bước đệm dé hình thành nên những nhân tải hay những lao động trong tương lai gần. Chính vì vậy, giáo dục học sinh ở phé thông mang tính chất quyết định dé hình thành nhân cách ở một học sinh. Nó phải đảm bao được sự phát triển về mọi mặt tri, the, mĩ. Điều nay dẫn đến mỗi môn học ở nhà trường phỏ thông với đặc trưng của minh đều phải góp phan đảo tạo thế hệ trẻ.
Trong 46 môn lịch sử với những đặc trưng riêng của mình cũng góp phan không nhỏ trong việc dao tạo toàn diện. Những kiến thức lịch sử thể giới, lịch sử dan tộc từ cổ chí kim đó tác dụng bồi dưỡng không chỉ đến tri tuệ mà cả thái độ, tình cảm của học sinh. Thông qua con người thật, việc thật và phương pháp giáo dục đúng đắn, hiệu quả sẽ khơi dậy cho học sinh những tư tưởng tình cảm đúng đắn, ma những tư tưởng tình cảm này là những hành trang tối cần thiết cho thế hệ trẻ trong điều kiện đất nước ta mở cửa hội nhập với thế giới. Nhà trường phổ thông chịu trách nhiệm quan trọng cùng với xã hội hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ.
Trong điều kiện hiện tai, môn lịch sử góp một phần tích cực vào công việc nay. Với tính đa dạng, phong phú của bộ môn. nội dung các khóa trình lịch sử pho thông có khả nang giáo dục nhiều mặt cho học sinh, xây dựng niềm tin vững chắc, lý tưởng cách mạng trên cơ sở nhận thức đúng sự phát triển khách quan hợp quy luật của xã hội loài người. Giáo dục cho học sinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong quá trình giữ nước va dựng nước, bởi dưỡng những phẩm chất đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Nhưng thực tế hiện nay, vị trí của bộ môn lịch sử đang bị xem nhẹ, chất lượng bộ môn giảm sút. Dé tải đã dé cập tới rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nảy trong đó nguyên nhân về phương pháp dạy học lịch sử là một Khoá luận tốt nghiệp Trang 1? GVHD: Th.s Đào Thị Mộng Ngọc SVTH: Nguyễn Thị Thương trong những nguyên nhân chính dẫn đến mon lịch sử không đạt được kết quả như môn học mong đợi. Vi thé, chúng ta cần có sự đổi mới trong việc dạy học lich sử. Ngoài những phương pháp cung cap kiến thức trên lớp trong những giờ chính khóa thì đây mạnh hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử nhằm mục đích hướng cho học sinh tới việc tìm hiểu kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Qua đó học sinh dan từ bỏ quan niệm môn lịch sử là môn học thuộc. la môn phụ. Học sinh không chỉ ghi nhớ may móc các sự kiện mà phải có sự phân tích, tổng hợp, khái quát. Hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử có vai trò quan trọng.
nó góp phân nâng cao hiệu quả dạy và học, làm cho học sinh thấy hứng hơn với môn lịch sử, nhằm góp phản cải thiện chất lượng bộ môn. Cách dạy và học nảy không phải là sản phâm của trỉ tưởng tượng mà là kết quả của quá trình nghiên cửu nghiêm túc trên cơ sở các vấn để như: cơ sở triết học, cơ sở sinh lý học, cơ sở tâm lý giáo dục. Cơ sở triết học: Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan và quy luật của nó vào bộ não con người. Khi thé giới bên ngoài tác động đến con người thì bộ óc cũng bắt đầu quá trình nhận thức, đó là cảm giác, trì giác, biểu tượng, khái niệm.
Không có sự tác động của thế giới khách quan bên ngoài, không có bộ não (là sản phẩm cao nhất của vật chất) thì không xuất hiện bất kì nhận thức nảo. Quá trình nhận thức của con người diễn ra qua hai giai đọan: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Hai giai đoạn này quan hệ chặt chẽ với nhau. hợp thành con đường biện chứng của nhận thức, Lênin chi ra như sau: “tir trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
từ tư duy trừu tượng về thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan" Như đã trình bày ở trên, quá trình nhận thức luôn bắt đầu từ sự nhận thức các sự vật, hiện tượng nhờ các giác quan. đây là giai đoạn thứ nhất trong quá ® V, Lê nin, bút kỷ, triết học, NXB Sự Thật HN, 1997, 1189, GVHD: Th.s Đào Thị Mộng Ngọc SVTH: Nguyễn Thị Thương trình nhận thức. gọi là nhận thức cảm tính. Ở giai đoạn này, con người chỉ nhận thức cái riêng lẻ, vẻ bẻ ngoài các hiện tượng của thé giới khách quan.
Nhận thức cảm tính luôn mang dấu 4n chủ quan như Lénin nói: “Cam giác đó chính là hình ảnh chủ quan của thé giới khách quan". Hinh thức cơ bản của nhận thức cảm tính chỉnh là cảm giác. Cảm giác là “quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng, đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người Nói chung. cảm giác đem lại cho con người quan niệm đúng đắn vẻ thế giới.
Ở giai đoạn thận thức cảm tính có tri giác là biểu tượng. “Tri giác la quá trình tâm lý, phan anh một cách trọn vẹn các thộc tính bên ngoài của sự vat, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta`”, Khác với cảm giác, tri giác không phản ánh từng mặt, từng dang vẻ riêng lẻ của sự vật, hiện tương mà phản ánh sự vật tổng thé các hình dạng, màu sắc các vẻ bề ngoai của sự vật va trong sự liên hệ lẫn nhau của các đáng vẻ, mặt bẻ ngoài đó. Khi tri giác các sự vật, hiện tượng. con người hiểu nó tương ứng với trình độ hiểu biết, vốn kinh nghiệm thực tiễn của mình và ghi nhớ bang từ ngữ.
Con người có xu hướng tìm thấy ở những sự vật, hiện tượng mới những nét tương đồng với sự vật, hiện tượng đã từng gặp, từng biết va tim cách sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định nào đó. "Biểu tượng là hình ảnh của sự vật, hiện tượng tạo ra từ quá trình cảm giác, tri giác trước đó va được giữ lại bằng trí nhớ trong ý thức của con người, trong một số trừơng hợp, biểu tượng còn phản ánh mặt bên trong của sự vật, hiện tượng" Biểu tượng có ý nghĩa quan trọng đối với nhận thức của con người. biểu tượng luôn có mặt mọi lúc mọi nơi, mọi khâu, từ cảm giác, trí giác đến tư duy va cả tưởng tượng. Biểu tượng tạo nên nội dung cơ bản của kiến thức.
kỹ * V, Lê nin, NXB Tiến Bộ. Matxcova, tập 8, tr 138. * Nguyễn Xuân Thức (cb), GT tâm lý học đại cương. NXB DHSP, 2006, tr 97 ? Nguyễn Xuân Thức (cb), GT tâm ly học đại cương, NXB DHSP, 2006, tr 105.
THU VIÊN | Khoá luận tốt nghiệp | ee AG | Trang 19 ——-—=——-s- GVHD: Th.s Đào Thị Mộng Ngọc SVTH: Nguyễn Thị Thương S——======—===EễEEŸEEEEEEễễễÄÃỗÃÃÃE năng, kỹ xảo. Nó là bậc thang kế tiếp từ các hình ảnh cụ thé đến các khái niệm trừu tượng, lả khung cửa dẫn cảm giác. trì giác sang lĩnh vực tư duy. Do mang tính chất biển đổi rộng rãi, biểu tượng đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong hoạt động sáng tạo của con ngừơi.
nhận thức cảm tính mang lại cho con người một bức tranh cụ thể, sinh động. đầy mau sắc, âm thanh.Nó không những giúp con người nhận thức thẻ giới khách quan mả còn giúp họ thích nghỉ với hoàn cảnh, nhờ vậy, con người mới có thé tồn tại được. Tuy vậy, bức tranh được nhận thức cảm tính vẽ nên còn nhiều hạn chế và không đầy đủ. Muốn nhận thức được các mặt bên trong, các mặt ban chất của sự vật, hiện tượng.
con người cần sử dụng sức mạnh tư duy trừu tượng, môt bước chuyển trong hoạt động nhận thức - nhận thức lý tính. “Tu duy là quá trình tâm lý, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết" Tư duy nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính, cho ta biết các thuộc tính, bản chất quy luật của sự vật. hiện tượng, những cái mà bằng giác quan, bằng nhận thức cảm tính chúng ta không thể biết được. Trong quá trình phân tích, tổng hợp hiện thực, tư duy phản ánh một cách gián tiếp và khái quát hóa thẻ giới hiện thực.
Chinh vì thể, tư duy cho phép ta tìm hiểu sâu quá khứ xa xưa cũng như nhìn về tương lai. Hình thức cơ bản của tư duy là khái niệm "Khái niệm là một hình thức nhận thức khoa học, trong đó vạch ra dưới dang khái quát va được diễn ta bằng những lời phát biểu khúc chiết, rõ rang” Dé đi đến khái niệm, sản phẩm cao nhất của tư duy thì con người thao tác tư duy như: phân tích, so sánh. tông hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa. * Nguyễn Xuan Thức (cb), GT tam lý học đại cương, NXB DHSP, 2006, tr 121.
* Nguyễn Xuắn Thước, giáo trinh tắm lý học đại cương. NXB DHSP 2006, tr 97. Khoá luận tốt nghiệp Trang 20 GVHD: Th.s Dao Thị Mộng Ngọc SVTH: Nguyễn Thị Thương Tư duy va ngôn ngữ cỏ mỗi liên hệ chặt chẽ với nhau. Ngôn ngữ phản anh hiện thực thông qua tư duy vả tư duy nằm trong ngôn ngữ.
được phát triển hoàn thiện trong quá trình rèn luyện. trau déi về ngôn ngữ. nhận thức của con người vẻ thé giới xung quanh day đủ hơn, chính xác hơn. Tuy nhiên, những hiểu biết đo tư duy đem lại con mang tinh chủ quan của con người.
Để kiểm tra mức độ chính xác của nhận thức, sản phẩm của tư duy phải đem vào sử dụng trong thực tiễn. quá trình nhận thức của con người gồm hai giai đoạn: nhận thức cam va nhận thức ly tính. Hai giai đoạn nay không tach rời nhau ma thống nhất. bỏ sung cho nhau để con người nhận thức thé giới một cách đầy đủ, chỉnh xác.
Trong quá trình nhận thức của con người. tư duy đóng vai trò quan trọng không thé thiếu. giúp con người hiểu sự vật, hiện tượng sâu sắc hơn. Tuy nhiên, chúng ta không thể xem thường nhận thức cảm tỉnh bởi nó là cơ sở để tiên hành hoạt đông tư duy.