CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KỸ THUẬT SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 5 CỦA CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG 2018 1. Một số khái niệm 1. Kỹ thuật dạy học “KTDH là những động tác, cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học” [27, tr.
Phân biệt kỹ thuật dạy học, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học: PPDH, KTDH, hình thức dạy học đều là những cách thức, phương thức, biện pháp, biểu hiện bên ngoài của hoạt động phối hợp giữa GV và HS nhằm đạt được mục tiêu của việc dạy học. - Giống nhau Trong một hoạt động dạy học có thể sử dụng nhiều PPDH, KTDH và hình thức tổ chức dạy học khác nhau. PPDH là nội dung của hoạt động dạy học, KTDH và hình thức dạy học là biểu hiện bên ngoài của con đường, cách thức của hoạt động dạy học. - Khác nhau KTDH là cụ thể hóa của PPDH và hình thức tổ chức dạy học, KTDH là đơn vị nhỏ nhất của PPDH, KTDH chưa phải là các PPDH độc lập, mà là những thành phần của PPDH.
KTDH được áp dụng trong những tình huống hành động dạy học nhỏ nhằm thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. Ngược lại, PPDH và hình thức tổ chức dạy học có thể được sử dụng trong nhiều tình huống, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học. KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động. Sự phân biệt giữa PPDH, hình thức tổ chức dạy học, KTDH chỉ mang tính tương đối.
Sơ đồ tư duy SĐTD là một khái niệm xuất hiện cách đây vài thế kỉ, nhưng phải đến năm 60 của thế kỉ XX, khái niệm này mới chính thức được phổ biến rộng rãi trong công chúng, đặc biệt là trong môi trường giáo dục. Do đó, cần phải có một quan niệm đúng đắn về SĐTD trong công tác dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng trong trường phổ thông hiện nay. 7 Theo Tony Buzan “SĐTD là công cụ tổ chức suy nghĩ cơ bản – một dụng cụ đa năng hỗ trợ bộ não của bạn. Sử dụng Sơ đồ tư duy là cách đơn giản nhất để đưa thông tin vào bộ não, để sau đó bạn có thể dễ dàng và nhanh chóng “truy xuất” lại những gì đã ghi nhớ.
Đây cũng là phương pháp ghi chép sáng tạo và hiệu quả” [23, tr. Ở một khía cạnh khác, tác giả Quảng Văn Hải lại cho rằng “SĐTD là phương pháp kết nối mang tính đồ họa có tác dụng lưu trữ, sắp xếp và xác lập ưu tiên đối với mỗi loại thông tin bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt hoặc gợi nhớ nhằm làm bật lên những kí ức cụ thể và phát sinh các ý tưởng mới. Mỗi chi tiết gợi nhớ trong SĐTD là chìa khóa khai mở các sự kiện, ý tưởng và thông tin, đồng thời khơi nguồn tiềm năng của bộ não kì diệu” [9, tr. Theo tác giả Nguyễn Lăng Bình “SĐTD là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng; tóm tắt những ý chính của một nội dung; hệ thống hóa kiến thức nhờ sự kết nối giữa các nhánh.
Các ý tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát được ý tưởng trên phạm vi sâu rộng” [4, tr. Theo tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng “SĐTD là một hình thức “ghi chép” bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời những “từ khóa”, hình ảnh, đường nét, màu sắc với sự tư duy tích cực, nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ý tưởng, tóm tắt những ý chính của nội dung, hệ thống hóa kiến thức của một chủ đề, cách giải một dạng bài tập,…” [12, tr. Từ những quan niệm trên, theo tôi, SĐTD là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Đặc biệt, SĐTD là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí hay lược đồ lịch sử, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng.
Do đó, việc lập SĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người. Đặc điểm của sơ đồ tư duy SĐTD có 4 đặc điểm chủ yếu [28, tr.4]: Thứ nhất: Đối tượng được quan tâm, xác định rõ ràng và được kết tinh thành một hình ảnh trung tâm. Thứ hai: Từ hình ảnh trung tâm, những chủ đề chính của đối tượng tỏa rộng thành các nhánh. Quan hệ tương hỗ giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận, ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính.
Thứ ba: Các nhánh đều cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết. Những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi các nhánh gắn kết với những nhánh có thứ bậc cao hơn. Thứ tư: Các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên hệ nhau. Dấu hiệu của Sơ đồ tư duy Ngoài ra màu sắc, hình ảnh, kích thước, mã số có thể được sử dụng để làm nổi bật và phong phú SĐTD, khiến nó có thêm sức hút, hấp dẫn, cá tính.
Nhờ đó mà đẩy mạnh tính sáng tạo, khả năng ghi nhớ. Các loại sơ đồ tư duy được sử dụng phổ biến * Bubble Map – Sơ đồ tư duy dạng bong bóng Đây là dạng SĐTD sử dụng vòng tròn nhỏ ở trung tâm và các vòng tròn bên ngoài chứa ý phụ. Những vòng tròn này thường được sáng tạo tô thành nhiều màu và được mọi người tưởng tượng như những quả bóng nhiều màu sắc. Sơ đồ tư duy dạng bong bóng * Brace Map – Sơ đồ tư duy dấu ngoặc “{” Sơ đồ Brace được thiết kế gồm các dấu ngoặc nhọn từ lớn đến nhỏ giúp phân tích, liệt kê đầy đủ các thành phần của một vấn đề đang phân tích.
Về mặt trực quan, sơ đồ Brace trông giống như sơ đồ cây nhưng nằm ngang. Tuy nhiên sơ đồ Brace thiên về mặt phân tách còn sơ đồ cây thiên về khái niệm hơn. Sơ đồ Brace có thể được sử dụng cho học tập đặc biệt là trong công việc khi muốn hình dung tất cả các thành phần của một chủ thể như nhân sự của công ty hoặc của các phòng ban. Sơ đồ tư duy dấu ngoặc * Sơ đồ tư duy dạng nhánh Đây được coi là dạng SĐTD thông dụng nhất, với phần chủ đề được để ở chính giữa, và các nhánh xung quanh được nối vào chủ đề thể hiện sự liên kết và rõ ràng.
Dạng sơ đồ này phù hợp với hầy hết các dạng bài học. HS viết chủ đề vào chính giữa trang giấy, sau đó triển khai các nhánh chính hay còn gọi là nhánh cấp 1 – những nhánh thể hiện nội dung lớn của chủ đề, từ nhánh cấp 1 triển khai các nhánh cấp 2, cấp 3 – những nhánh bổ sung, nêu rõ hơn về phần nội dung của nhánh 1. Với dạng SĐTD nhánh, HS sẽ thiết kế hầu hết bằng các từ khóa, hình ảnh ngắn gọn, cùng với các màu sắc sinh động bắt mắt. Sơ đồ tư duy dạng nhánh 11 1.
Các hình thức thiết kế sơ đồ tư duy Đối với GV, để thiết kế một SĐTD đối với một bài học, chúng ta có thể thiết bằng bản vẽ trên giấy, hoặc hệ thống kiến thức bằng SĐTD trên bảng, hoặc có thể dùng phần mềm vẽ SĐTD. Đối với HS, hình thức thiết kế SĐTD trên giấy sẽ dễ dàng và thiết thực hơn cho việc học. Thiết kế sơ đồ tư duy trên giấy Đây là hình thức thiết kế SĐTD phổ biến mà bất kì đối tượng hay điều kiện cơ sở vật chất nào cũng có thể thực hiện được. Phương tiện để thiết kế SĐTD trên giấy khá đơn giản chỉ cần giấy, bìa cứng, bảng phụ, phấn màu, bút chì màu, tẩy,… Để hoàn thành tốt quá trình tạo SĐTD thì ta cần lưu ý về màu sắc, hình ảnh và các dụng cụ cần thiết sau đây: - Giấy (khổ lớn hoặc nhỏ tùy thuộc theo nội dung và mục đích ghi chép).
- Bút màu, nên dùng bút dạ để tiện cho việc ghi chép và tô vẽ các nhánh, hình dạng. - Sách và các tài liệu về nội dung, chủ đề cần làm SĐTD. Thông thường một SĐTD được xây dựng bắt nguồn từ một từ khóa chính hoặc một chủ đề, ý tưởng chính. Từ đó, phân ra thành các nhóm nhỏ, trong các nhóm nhỏ lại phân tách các thành phần, yếu tố tạo nên và cuối cùng là có được một SĐTD hoàn chỉnh với các nhánh chi tiết.
Hình ảnh minh họa thiết kế SĐTD bằng tay 12 1. Thiết kế sơ đồ tư duy thông qua sử dụng một số phần mềm Bên cạnh việc thiết kế SĐTD trên giấy (bảng), ngày nay đã có rất nhiều phần mềm thiết kế SĐTD trên máy tính giúp chúng ta thuận lợi tạo lập các SĐTD một cách dễ dàng hơn, nhanh hơn và tiện lợi hơn. Dưới đây là một số phần mềm thiết kế SĐTD mà GV có thể sử dụng: ❖ IMindMap IMindMap là phần mềm thiết kế SĐTD được phát triển bởi Tony Buzan - người đầu tiên tạo ra SĐTD. Phần mềm này cung cấp nhiều sơ đồ, công cụ, ý tưởng để giúp mọi người có thể chuyển đổi các kiến thức dài, các ý tưởng thành các hình ảnh, sơ đồ ngắn gọn.
Logo ứng dụng IMindMap - Ưu điểm + Giao diện trực quan, thân thiện, dễ sử dụng, giúp những người ngay cả khi mới sử dụng có thể thiết kế được những SĐTD nhanh chóng và dễ dàng. + Hỗ trợ lưu lại và xuất ra dưới nhiều định dạng khác nhau như: JPEG, PNG, Presentation, PDF,… + Có nhiều tính năng để có thể vẽ và xem SĐTD một cách chuyên nghiệp như vẽ sơ đồ và chiếu như một hình 3D. + Chứa nhiều tùy chọn hình ảnh để mọi người có thể lựa chọn sử dụng. + Có nhiều màu sắc để mọi người làm nổi bật ý tưởng và sự sáng tạo của bản thân.
- Nhược điểm + Trong quá trình sử dụng có thể gặp vài lỗi nhỏ (không đáng kể). + Khi sử dụng những chức năng nâng cao sẽ phải trả phí. + Không thể xuất ra dưới dạng video. ❖ Coggle Coggle là ứng dụng thiết kế SĐTD chạy trên nền tảng web bạn không cần cài đặt chỉ cần bạn đăng ký tài khoản là đã có thể sử dụng dễ dàng.