Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Cổ phần ALPHA. Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện kế toán tiền lương tại công ty CP ALPHA. Sinh viên: Đinh Bá Thi – QTL 601K 2 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Các khái niệm cơ bản liên quan đến tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng *Khái niệm :. * của tiền lương : Tiền lương ( tiền công) chính là phần thù lao, lao động được biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng, chất lượng công việc của họ. Tiền lương còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của họ. Nói cách khác, tiền lương chính là một nhân tố thúc đẩy năng suất lao động.
* Bản chất của tiền lương : Bản chất của tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá của yếu tố sức lao động, tiền lương tuân theo nguyên tắc cung cầu giá cả thị trường và pháp luật của nhà nước hiện hành. Tiền lương chính là nhân tố thúc đẩy năng suất lao động, là đòn bẩy kinh tế khuyến khích tinh thần hăng hái lao động. Đối với chủ doanh nghiệp tiền lương là một yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất. Còn đối với người lao động là nguồn thu nhập chủ yếu của họ, nói cách khác tiền lương là động lực và là cuộc sống.
Sinh viên: Đinh Bá Thi – QTL 601K 3 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Một số vấn đề mà doanh nghiệp không thể không quan tâm đó là mức lương tối thiểu. Mức lương tối thiểu đo lường giá trị sức lao động thông thường trong điều kiện làm việc bình thường. Đây là cái “Ngưỡng” cuối cùng cho sự trả lương của tất cả các doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn có sức lao động để hoạt động sản xuất kinh doanh, ít nhất trả lương không thấp hơn mức lương tối thiểu mà nhà nước quy định.
Đồng thời doanh nghiệp phải tính toán giữa chi phí và thu nhập trong đó có tiền lương là một chi phí rất quan trọng ảnh hưởng đến mức lao động sẽ thuê làm sao để tạo được lợi nhuận cao nhất. * Chức năng của tiền lương : Ý nghĩa của tiền lương đối với người lao động, đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng to lớn nếu đảm bảo đầy đủ các chức năng sau: _ Chức năng thước đo giá trị: là cơ sở để điều chỉnh giá cả phù hợp mỗi khi giá cả biến động. _ Chức năng tái sản xuất sức lao động: nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài, có hiệu quả trên cơ sở tiền lương bảo đảm bù đắp được sức lao động đã hao phí của người lao động. _ Chức năng kích thích lao động: bảo đảm khi người lao động làm việc có hiệu quả thì nâng lương và ngược lại.
_ Chức năng tích lũy: đảm bảo các dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi người lao động hết khả năng lao động hoặc gặp bất trắc, rủi ro. * Một số nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương: Tất cả người lao động đều mong muốn có mức thu nhập từ tiền lương ổn định và khá nhưng thực tế có rất nhiều nhân tố chủ quan cũng như khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương của họ. Một số nhân tố có thể kể đến là: _ Do còn hạn chế về trình độ cũng như năng lực. _ Tuổi tác và giới tính không phù hợp với công việc.
_ Làm việc trong điều kiện thiếu trang thiết bị. _ Vật tư, vật liệu bị thiếu, hoặc kém phẩm chất. _ Sức khỏe của người lao động không được đảm bảo. _ Làm việc trong điều kiện địa hình và thời tiết không thuận lợi.
Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng từng ngày, nếu không tự trau dồi kiến thức và học hỏi các kiến thức mới để theo kịp những công nghệ mới thì chất lượng cũng như số lượng sản phẩm không được đảm Sinh viên: Đinh Bá Thi – QTL 601K 4 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng bảo, từ đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người lao động. Vấn đề tuổi tác và giới tính cũng được các doanh nghiệp rất quan tâm, nhất là với doanh nghiệp sử dụng lao động chủ yếu bằng chân tay như trong các hầm mỏ, công trường xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng … Ngoài vấn đề trên, vấn đề sức khỏe của người lao động đóng vai trò then chốt trog mọi hoạt động sản xuất, nếu nó không được đảm bảo thì thu nhập của người lao động cũng không được đảm bảo. Thêm vào đó các nhân tố vật tư, trang thiết bị, điều kiện địa hình và thời tiết cũng ảnh hưởng lớn tới thu nhập của người lao động. 2014: Đối tƣợng trích DN (%) NLĐ (%) Cộng (%) Các khoản trích 1 Bảo hiểm xã hội 18 8 26 (BHXH) 2 Bảo hiểm y tế 3 1.5 * Bảo hiểm xã hội ( BHXH) Luật bảo hiểm xã hội quy định có 2 loại bảo hiểm xã hội là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện: _ Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
_Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội. Sinh viên: Đinh Bá Thi – QTL 601K 5 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Trong phạm vi bài viết sẽ chỉ đề cập đến BHXH bắt buộc đối với các đối tượng sau: Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ 3 tháng trở lên. Cán bộ, công chức, viên chức. Công nhân quốc phòng, Công nhân công an.
Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân. Quỹ BHXH được hình thành từ việc lập theo tỷ lệ quy định trên tổng số lương làm cơ sở tính BHXH trong tháng, và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong giai đoạn 2014, mức trích BHXH là 26 % trong đó doanh nghiệp chịu 18% và 8% do người lao động đóng góp. Quỹ BHXH được xây dựng theo quy định của nhà nước, do cơ quan BHXH quản lý.
Quỹ được thiết lập để tạo ra nguồn kinh phí trợ cấp cho người lao động, chi tiêu trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí …. _ Trợ cấp ốm đau: Mức trợ cấp là 75% tiền lương, tiền công mà người đó đóng BHXH của tháng liền trước kỳ nghỉ. _Trợ cấp thai sản: hưởng 100% mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ. _ Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tùy vào mức suy giảm khả năng lao động.
_ Trợ cấp thôi việc, hưu trí: Khi nghỉ hưu, tùy theo thời gian đóng BHXH thì lương hưu được hưởng 45% tương ứng với 15 năm đóng BHXH. Sau đó cứ tăng thêm 1 năm đóng BHXH thì sẽ được tính thêm 2% đối với nam và 3 % đối với nữ, nhưng tối đa là 75% tiền đóng BHXH. * Bảo hiểm y tế ( BHYT) Là khoản tiền do người lao động và chủ doanh nghiệp đóng góp để chi trả cho việc chăm sóc sức khỏe cho người lao động. Quỹ BHYT được nộp lên cơ quan chuyên môn( thường dưới hình thức mua BHYT) để bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho công nhân viên.
Quỹ BHYT được sử dụng chi trả cho người lao động thông qua mạng lưới y tế. Khi người lao động ốm đau thì mọi chi phí khám chữa bệnh đều được cơ quan BHYT chi Sinh viên: Đinh Bá Thi – QTL 601K 6 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng trả thông qua dịch vụ khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế chứ không trả trực tiếp cho người lao động. Theo chế độ hiện hành: Quỹ BHYT được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 4.5% trên tổng số tiền lương phải trả cho công nhân viên, trong đó: + Người sử dụng lao động phải chịu 3 % và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. + Người lao động phải chịu 1.5% bằng cách khấu trừ vào lương của họ.5% trích được DN nộp hết cho công ty BHYT tỉnh hoặc thành phố.
Quỹ này được dùng để mua BHYT cho công nhân viên. * Kinh phí công đoàn ( KPCĐ) Kinh phí công đoàn là khoản tiền được trích lập theo tỷ lệ quy định trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ công nhân viên trong doanh nghiệp nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đồng thời duy trì hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp. Theo chế độ hiện hành hàng tháng doanh nghiệp trích 2% kinh phí công đoàn trên tổng số tiền lương thực tế của người lao độ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Quỹ KPCĐ được phân cấp quản lý và chi tiêu theo chế độ quy định : 1% nộp lên cấp trên , 1% chi cho hoạt động công đoàn cơ sở.
Việc chi tiêu quỹ KPCĐ phải chấp hành đúng theo quy định, tổ chức công đoàn các cấp có trách nhiệm quản lý việc sử dụng quỹ này đúng mục đích. * Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) Là khoản tiền do người lao động, người sử dụng lao động đóng góp cộng cùng một phần hỗ trợ của nhà nước. Quỹ này để hỗ trợ cho người lao động khi họ mát việc làm. Đây là một chính sách mới của nhà nước góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc.
Quỹ BHTN được hình thành từ các nguồn: + Từ người lao động: người lao động đóng góp 1% lương cơ bản. + Từ người sử dựng lao động: Doanh nghiệp đóng góp 1% trên lương cơ bản của lao động trong doanh nghiệp, được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Sinh viên: Đinh Bá Thi – QTL 601K 7 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Tuy nhiên , từ ngày 1/1/2010 căn cứ trích BHTN là tổng tiền lương phải trả cho công nhân viên. Quỹ BHTN do cơ quan chuyên môn quản lý.
Hàng tháng căn cứ vào quỹ lương doanh nghiệp trích nộp BHTN.