Đặt vấn đề Để tiến hành quá trình sản xuất, bất kì doanh nghiệp nào cũng cần phải có các yếu tố cơ bản: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Cho đến nay, lao động vẫn là yếu tố chính có tính chất quyết định trong hoạt động sản xuất nói chung, hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế. Tiền lương và các khoản trích theo lương là một phần trong công tác hạch toán kế toán.
Trong đó việc nghiên cứu quá trình hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương như BHHX, BHYT, BHTN, KPCĐ rất được người lao động quan tâm bởi tiền lương và các khoản bảo hiểm đảm bảo mức sống của người lao động. Hiện nay, các doanh nghiệp có rất nhiều phương pháp tính lương, hình thức trả lương cho người lao động để lựa chọn cho phù hợp với đặc điểm của mỗi doanh nghiệp mình. Tuy nhiên, việc gắn liền công tác kế toán tiền lương với kế hoạch sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí lao động thì vẫn còn số ít doanh nghiệp chưa làm được. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, chi phí về lao động là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm, doanh nghiệp sử dụng, quản lý tốt lao động và chi phí lao động sẽ tạo động lực khuyến khích tăng năng suất, giúp giảm chi phí về lao động sống, góp phần hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận và tạo điều kiện để cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân viên, người lao động trong doanh nghiệp.
Đồng thời, công tác kế toán tiền lương còn giúp nhà quản trị tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo kế hoạch mà doanh nghiệp đặt ra, nhằm đạt được những 1 mục tiêu mong đợi. Vì vậy, vai trò của công tác kế toán lương trong doanh nghiệp cũng vô cùng quan trọng và cần thiết. Công ty cổ phần Visimex là đơn vị thành viên của tập đoàn NIC được thành lập năm 2002 với mục tiêu trở thành công ty dẫn đầu cung cấp hàng gia vị và nông sản. Các ngành nghề chính của công ty bao gồm: cung cấp hàng đầu các gia vị nông sản; sản xuất kinh doanh các mặt hàng như hạt tiêu hạt điều, quế, sao hồi, cà phê, gạo, chè… Ngày nay cuộc sống con người ngày càng đòi hỏi chất lượng cao hơn, do vậy các loại gia vị nông sản cũng vì vậy mà càng ngày phải có chất lượng tốt hơn và đa dạng hơn nữa.
Để đáp ứng như cầu đó của người tiêu dùng, những năm gần đây doanh nghiệp liên tục mở rộng quy mô sản xuất. Do đó lực lượng lao động phục vụ cho sản xuất ngàng càng một tăng. Việc hạch toán lương và các khoản trích theo lương theo đúng một chính sách chuẩn mực, đúng đắn giúp lao động trong doanh nghiệp được cải thiện đời sống vật chất, tinh thần. Đồng thời, nó cũng đóng góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao năng suất lao động, tăng doanh thu cho doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương, trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Visimex, em chọn đề tài nghiên cứu: “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Visimex” để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.2 Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu nghiên cứu chung TRên cơ sở phân tích thực trạng công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Visimex, từ đó đưa ra đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Visimex. - Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Visimex.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Visimex trong thời gian tới 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty. Phạm vi nghiên cứu • Phạm vi không gian Đề tài tìm hiểu và nghiên cứu tại Công ty cổ phần Visimex, địa chỉ: Tầng 4, tòa nhà Gemadept Building, 108 phố Lò Đúc, Phường Đống Mác, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. • Phạm vi thời gian Đề tài phản ánh số liệu tại Công ty cổ phần Visimex qua 3 năm 2017, 2018, 2019.
• Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 09/2020 đến tháng 01/2021. Kết quả nghiên cứu dự kiến - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Visimex. - Báo cáo hoàn thiện về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Visimex 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương 2.1 Khái niệm về tiền lương Theo C. Mac, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac- Lenin, “Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động”.
Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại: “Tiền lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động”. Trong kinh tế thị trường, sức lao động trở thành hàng hóa, người có sức lao động có thể tự do cho thuê (bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động: Nhà nước, chủ doanh nghiệp.) thông qua các hợp đồng lao động. Sau quá trình làm việc, người sử dụng lao động sẽ trả một khoản tiền có liên quan chặt chẽ đến kết quả lao động của người đó. Về tổng thể tiền lương được xem như là một phần của quá trình trao đổi giữa lao động và người sử dụng lao động.
- Người lao động cung cấp cho người sử dụng lao động về mặt thời gian, sức lao động, trình độ nghề nghiệp cũng như kỹ năng lao động của mình. - Đổi lại, người lao động nhận lại từ doanh nghiệp tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp xã hội, những khả năng đào tạo và phát triển nghề nghiệp của mình. Đối với thành phần kinh tế tư nhân, sức lao động rõ ràng trở thành hàng hóa vì người sử dụng tư liệu sản xuất không đồng thời sở hữu tư liệu sản xuất. Giá trị của sức lao động thông qua sự thỏa thuận của hai bên căn cứ vào pháp luật hiện hành.
Đối với thành phần kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, tập thể người lao động từ Giám đốc đến công nhân đều là người cung cấp sức lao động và được Nhà nước trả công. Nhà nước giao quyền sử dụng quản lý tư liệu sản xuất cho tập thể người lao động. Giám đốc và công nhân viên chức là 4 người làm chủ được ủy quyền đầy đủ, và không phải tự quyền về tư liệu đó. Tuy nhiên những đặc thù riêng trong việc sử dụng lao động của khu vực kinh tế có hình thức sở hữu khác nhau nên các quan hệ thuê mướn, mua bán, hợp đồng lao động cũng khác nhau, các thỏa thuận về tiền lương và cơ chế quản lý tiền lương cũng được thể hiện theo nhiều hình thức khác nhau.
Tiền lương là bộ phận cơ bản (hay duy nhất) trong thu nhập của người lao động, đồng thời là một trong các chi phí đầu vào trong sản xuất kinh doanh của xí nghiệp. Vậy có thể hiểu: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả yếu tố của sức lao động, tuân theo nguyên tắc cung – cầu, giá cả thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà nước. Cùng với khả năng tiền lương, tiền công là một biểu hiện hay một tên gọi khác của tiền lương. Tiền công gắn với các quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động và thường sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các hợp đồng thuê lao động có thời hạn.
Tiền công còn được hiểu là tiền trả cho một đơn vị thời gian lao động cung ứng, tiền trả theo khối lượng công việc được thực hiện phổ biến trong những thỏa thuận thuê nhân công trên thị trường tự do. Đối với các doanh nghiệp hay còn gọi là người sử dụng lao động, tiền lương phải trả cho người lao động là yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sáng tạo ra. Do đó, các doanh nghiệp phải sử dụng sức lao động có hiệu quả để tiết kiệm chi phí tiền lương. Liên quan đến tiền lương, ở Việt Nam còn có một số khái niệm như sau: • Tiền Lương cơ bản: Là tiền lương được chính thức ghi trong các hợp đồng lao động, các quyết định về lương hay qua các thỏa thuận chính thức giữa NLĐ và người sử dụng LĐ.
Tiền lương cơ bản phản ánh giá trị của sức lao động và tầm quan trọng của công việc mà người lao động đảm nhận. 5 Trong khu vực Nhà nước, tiền lương cơ bản được xác định như sau: Tiền lương cơ bản = Tiền lương tối thiểu * Hệ số lương • Tiền lương tối thiểu: Điều 91 Bộ Luật Lao động 2012 quy định: “Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho NLĐ làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường và phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ”. Có 2 loại lương tối thiểu là lương cơ sở và lương tối thiểu vùng. Lương cơ sở: áp dụng trong cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV đã chính thức thay đổi mức lương cơ sở áp dụng từ ngày 01/07/2020 là 1.000 đồng/tháng.
Lương tối thiểu vùng: áp dụng với doanh nghiệp tư nhân. Theo Nghị định 90/2019/NĐ-CP, từ ngày 01/01/2020, mức lương tối thiểu vùng được áp dụng như sau: Vùng Mức lương tối thiểu Vùng I 4.000 đồng/tháng Vùng II 3.000 đồng/tháng Vùng III 3.000 đồng/tháng Vùng IV 3.000 đồng/tháng (Nguồn: Nghị định 90/2019/NĐ-CP) Tiền lương tối thiểu có những đặc trưng cơ bản sau đây: Được xác định ứng với trình độ lao động giản đơn nhất. Tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất trong điều kiện lao động bình thường. Đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu cần thiết.