ĐẶT VẤN ĐỀ: Bóng bàn là môn thể thao có lịch sử lâu đời và có nguồn gốc từ nước Anh, sau đó phát triển rộng rãi ở các nước trên thế giới và đến năm 1920 mới xuất hiện ở Việt Nam. Miền Bắc được du nhập từ các thương gia Hoa Kiểu mang lại, còn Miễn Nam do thực dân Pháp mang vào. Lúc đầu là trò chơi giải trí cho các tầng lớp trên trong xã hội , sau dẫn dẫn được phổ biến rộng rãi. Đến năm 1924 bóng bàn đã phát triển mạnh mẽ, du nhập vào các tỉnh, thành ở nước ta như: Thành Phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế và Sài Gòn.
Bóng bàn phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính, trình độ, thể trạng của người Việt Nam. Với dụng cụ phương pháp tập luyện thi đấu đơn giản, dễ hiểu. Chính vì thế môn bóng bàn được nhiều người yêu thích tham gia tập luyện và phát triển nhanh chóng. Có thể điểm qua một số thành tích mà môn bóng bàn đã đạt được như: a VBV Mai Văn Hoà: 2 lần vô địch đơn nam Châu A ( 1953-1954) và là hạt giống số 8 thế giới.
a VPV Lê Văn Tiết vô địch giiải Pháp mở rộng nam 1959, jtừng là VPV hạt giống số 6 thế giới. a Cặp đôi nam Mai Văn Hoà và Trần Cảnh Được đoạt chức vô địch đôi nam Châu A (1953) và Huy Chương Bạc năm (1954); đồng đội nam Việt Nam xếp hạng 5 (1957), đoạt chức vô địch Châu A (1958),sau khi thắng đội nam Nhật Bản trong trận chung kết (đội Nhật khi đó là đương kim vô địch thế giới), năm 1959 đồng đội nam xếp thứ 3 thế giới. Như vậy có thể nói trong những thập kỷ năm mươi bóng bàn Việt Nam được coi là một trong những cường quốc bóng bàn của thế giới. Tuy nhiên sau đó một thời gian dài do chiến tranh đất nước bị chia cất , TDTT nói chung và môn bóng bàn nói riêng không có điều kiện giao lưu, đầu tư.
Vì thế thực tế đã chững lại và lạc hậu so với trình độ thế giới. Tuy nhiên, từ năm 1989 trở lại đây được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Tổng cục TDTT (nay là UBTDTT) môn bóng bàn được đầu tư và quay trở lại đấu trường khu vực và thế giới. Kết quả các VDV bóng bàn Việt Nam cũng thu được một số thành tích qua các kỳ Seagames (15-22) đội tuyển Việt Nam đã đoạt được thành tích : huy chương vàng, 9 huy chương bạc , 14 huy chương đồng. Ngoài ra tại giải trẻ Châu Á(1996) VĐV Đoàn Kiến Quốc đã đạt huy chương vàng đơn nam.
Và gần đây tại giải vô địch Đông Nam A tổ chức ở Việt Nam năm 2004, đội tuyển Việt Nam đạt 3 huy chương vàng với các nội dung: Đồng đôi, đôi nam, đơn nam. VĐV Đoàn Kiến Quốc đã đoạt chức vô địch đơn nam. Và đặc biệt hon nữa VĐV Đoàn Kiến Quốc đã giành chiếc vé duy nhất khu vực Đông Nam Á tham dự thế vận hội Olympic tại Athen (Hy Lạp) vừa qua. Nhưng đáng tiếc VĐV Đoàn Kiến Quốc cũng không giành được thành tích gì ở giải này.
Như vậy qua thành tích thi đấu của các VDV bóng bàn Việt Nam tại các giải thi đấu khu vực và quốc tế cho thấy mặc dù ra đời muộn song thành tích thi đấu quốc tế lại sớm đạt được. Bóng bàn Việt Nam đang phát triển rất mạnh mẽ nhưng trình độ so với các nước có nền bóng bàn tiên tiến còn có những khoảng cách chưa đáp ứng được sự mong mỏi của quần chúng hâm mộ cũng như nhiệm vụ mà ngành TDTT giao phó cho môn bóng bàn. Để giúp cho môn bóng bàn Việt Nam tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí của mình trên đấu trường quốc tế, thì một trong những định hướng quan trọng là việc đào tạo và béi dưỡng một lực lượng VĐV bóng bàn trẻ, có đủ trình độ để đáp ứng với các yêu cầu thực tiễn, thay thế các lớp đàn anh đi trước. Việc đào tạo VĐV trẻ đòi hỏi phải theo một hệ thống bài bản, khoa học và liên tục.
Trong đó việc kiểm tra và đánh giá có ý nghĩa quan trong là “ thông tin ngược chiểu” giúp cho các huấn luyện viên điểu chỉnh bổ sung kịp thời cho kế hoạch huấn luyện. ĐãkLäk là một tỉnh của khu vực Tây Nguyên, mặc dù diéu kiện TDTT còn gặp rất nhiều khó khăn và thiếu thốn về cơ sở vật chất. Những năm gan đây được sự quan tâm và đầu tư, cùng với sự phấn đấu nỗ lực môn bóng bàn đã đóng góp một số thành tích đáng khích lệ cho phong trào tập luyện, thi đấu trong và ngoài tỉnh. Mặc dù chưa đạt được những đóng góp cho quốc gia, song với sự quan tâm cuả các cấp lãnh đạo mà trực tiếp là ban giám đốc sở TDTT DakLak về việc bổi dưỡng, huấn luyện các tài năng trẻ, và thấy được tầm quan trọng trong việc đào tạo , phát triển các nhân tài tương lai của đất nước, của nhiều môn thể thao trong đó có môn bóng bàn.
Tuy vậy hệ thống kiểm tra đánh giá trình độ VĐV bóng ban gặp nhiều khó khăn vì chưa có các chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá trình độ tập luyện của VĐV. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của quá trình đào tạoVĐV bóng ban trẻ DakLak, là sinh viên chuyên sâu bóng bàn với mong muốn đóng góp một phan công sức của minh cho sự nghiệp phát triển thể thao của tỉnh nhà và tao thêm cơ sở lý luận cho công tác huấn luyện môn bóng bàn, nên tôi đã mạnh dan nghiên cứu để tài: “Nghiên cứu đánh giá trình độ kỹ chiến thuật và thể lực của nam vận động viên bóng bàn trẻ lứa tuổi 12-14 tỉnh ĐăkLäk °. Chương l: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 1.1 Khái niệm và các quan điểm về trình độ tập luyện: Nói đến trình độ tập luyện là bao gồm nhiều mặt trong đó có cả trình độ thể lực, kỹ thuật, chiến thuật,tâm lý, chức năng. đó là những yếu tố cơ bản của quá trình huấn luyện thể thao.
Theo quan điểm của các nhà lý luận thể thao thì: Theo Aulic J.V 1982 trong sách “ Đánh giá trình độ tập luyện thể thao” õng cho rằng “Việc đánh giá trình độ tập luyện không phải là mục đích tự thân, là nhiệm vụ thứ 2, nó như là một phương tiện kiểm tra cẩn có để phục vụ cho vấn để chính. Đó là vấn để phương pháp luyện tập tạo diéu kiện đạt được những thành tích thể thao cao. Khi phân tích khái niệm về trình độ tập luyện ông cho rằng :”Có một yếu tố cơ bản của trình độ tập luyện không được Novicov A.D và Mátveev Lp nói tới, đó là thành tích thể thao. Vì vậy khi nói tới van để này ông coi: “Trinh độ tập luyện là năng lực tiểm tàng của VĐV để đạt được những thành tích nhất định trong môn thể thao lựa chọn và năng lực này được biểu hiện cụ thể ở mức chẩn bị vẻ kỹ chiến thuật và thể lực, đạo đức, ý chi, trí tuệ.
Trình độ tập luyện nâng cao thì VĐV càng có thé làm chon ven được một nhiệm vụ nhất định với hiệu quả mĩ mãn hơn [1]. Theo I V Xmirơnop , 1984 thì * Trình độ tập luyện của VĐYV là kết quả tổng hợp của quá trình huấn luyện thể thao, nó phản ánh sự nâng cao khả năng chức phận của cơ thể VĐV, khả nang làm việc chung và chuyên môn, trình độ hoàn thiện kỹ năng kỹ xảo vận động. Trình độ tập luyện của VDV được đánh giá và kiểm tra bằng những kỹ năng của VĐV thể hiện ở thành tích thể thao, ông cũng chỉ ra các chỉ tiêu và các phương pháp đánh giá tổng hợp trình độ tập luyện của VĐV [3]. Theo PGS Trịnh Trung Hiếu- TS Ngô Si Hà thì: * Trình độ tập luyện là trạng thái gắn liển với những biến đổi thích nghỉ của các đặc tính sinh học trong cơ thể VĐV, những biến đổi đó xác định mức độ khả năng của các hệ thống chức nang cơ thé{4, tr12).
Theo quan điểm cud PGS Nguyễn Toán- TS Phạm Danh Tốn thì:” Trình độ tập luyện của VĐV là kết quả tổng hợp của việc giải quyết các nhiệm vụ trong thực tiễn tập luyện thể thao. Nó thể hiện ở khả năng nâng cao chức phận của cơ thể,năng lực hoạt động chung và chuyên môn của VDV ở mức hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo thể thao phù hợp `. Chúng tôi cho rằng trình độ tập luyện của VĐV bóng bàn trẻ tuổi 12-14 là thước đo khả năng hoàn thiện về kỹ chiến thuật và mức độ phát triển ngày càng cao của các tố chất thể lực, tâm lý cùng những biến đổi tích ứng về sinh học cho phù hợp với đặc thù của món bóng bàn thông qua quá trình tập luyện và thi đấu. Đây là những yếu tố quan trọng trong quá trình huấn luyện.
Vậy : Trình độ thể lực là gì?. Đó là mức độ phát triển vé sức mạnh, sức nhanh, sức bên mềm déo và các tố chất thể lực chung nhằm dim bảo cho cơ thể, thé chất phát triển toàn điện và củng cố sức khoẻ. Trình độ kỹ chiến thuật là mức độ sử dụng các kỹ thuật- chiến thuật một cách điêu luyện, hình thành nên các kỹ năng kỹ xảo vận động[7,4 19]. Vậy trình độ tập luyện của VĐV là kết quả tổng hợp của việc giải quyết các nhiệm vụ trong thực tiễn tập luyện thể thao.
Trình độ tập luyện thể hiện ở mức nâng cao khả năng chức phận của cơ thể, năng lực hoạt động chung và chuyên môn của VĐV ở mức hoàn thiện các kỹ năng và kỹ xảo vận động vẻ trình độ thể lực, kỹ thuật ,chiến thuật một cách thuần thục điêu luyện [7,427].2 Đặc điểm tâm -sinh lý lứa tuổi 12-14: 1. Đặc điểm tâm lý: Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều giữa các cơ quan hệ thống trong cơ thể. Lứa tuổi nay các em có những bước phát triển nhảy vọt về mặt thể chất lẫn tinh thần. Các em đang tách dẫn khỏi thời thơ ấu để chuyển sang giai đoạn trưởng thành.
Các em không còn là trẻ con , nhưng chưa phải là người lớn. Điểu này được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau của nó: “tuổi khó bảo”, "tuổi khủng hoảng”, "tuổi bất trị”. Tâm lý của lứa tuổi này diễn ra rất phức tạp và được thể hiện như sau: - Vé sự chú ý: Ở lứa tuổi 12-14 thì chú ý có chủ định bển vững được hình thành. Tính lựa chọn của chú ý phụ thuộc vào tính chất của đối tượng hoạt động,học tập và mức độ hứng thú của các em với đối tượng đó.