Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm tại Việt Nam. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư được tác giả trích dẫn, tính đến ngày 20/04/2021, cả nước có 33.463 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 394,9 tỷ USD, thu hút các nhà đầu tư đến từ 140 quốc gia và vùng lãnh thổ vào 19/21 ngành kinh tế tại toàn bộ 63 tỉnh, thành phố. Riêng tại thành phố Hải Phòng, tính đến hết tháng 12/2020 đã có 489 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư hơn 20,2 tỷ USD. Trong 3 tháng đầu năm 2021, thành phố thu hút thêm 906,85 triệu USD vốn FDI với các dự án quy mô lớn như Tập đoàn LG (5,84 tỷ USD), Bridgestone (1,2 tỷ USD), Pegatron (481 triệu USD), Tập đoàn USI (200 triệu USD) và Kyocera (187 triệu USD).
Sự gia tăng của các dự án FDI mở ra nhiều việc làm nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý quan hệ lao động, đặc biệt là chế độ tiền lương. Tiền lương vừa là nguồn thu nhập bù đắp sức lao động của người lao động, vừa là cấu thành chi phí sản xuất và đòn bẩy kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tồn tại tình trạng chưa tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật, lợi dụng kẽ hở pháp lý để ban hành quy chế trả lương gây bất lợi cho người lao động, gây khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:
- Tìm hiểu các vấn đề cơ bản về tiền lương như khái niệm, bản chất, chức năng và những điều chỉnh của pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp.
- Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp, tập trung vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Hải Phòng.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách tiền lương trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống quy phạm pháp luật lao động về tiền lương và thực tiễn áp dụng các quy định này tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung trên địa bàn thành phố Hải Phòng, với dữ liệu thực tế thu thập từ chuỗi cung ứng và quá trình thực tập tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Deckers Outdoor tại Hải Phòng. Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn năm 2020 đến tháng 4 năm 2021, thời điểm Bộ luật Lao động năm 2019 chính thức có hiệu lực thi hành.
Cơ sở pháp lý và khung lý luận
Về cơ sở lý luận, khóa luận hệ thống hóa các học thuyết kinh tế học kinh điển về tiền lương:
- Lý thuyết giá trị - lao động của W. Petty (1623 - 1687): Coi tiền lương là giá cả tự nhiên của lao động và đề cập đến quy luật sắt về tiền lương với giới hạn tối thiểu bằng tư liệu sinh hoạt.
- Lý thuyết của Adam Smith (1723 - 1790): Xác định tiền lương là thu nhập của người lao động, phụ thuộc vào giá trị tư liệu sinh hoạt, trình độ phát triển kinh tế, điều kiện lao động và quy luật cung - cầu trên thị trường.
- Quan điểm của David Ricardo (1772 - 1823): Tiền lương xoay quanh giá cả tự nhiên của hàng hóa sức lao động.
- Học thuyết của Karl Marx (1818 - 1887): Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, gồm 3 bộ phận cấu thành: chi phí tư liệu sinh hoạt cho bản thân người lao động, chi phí duy trì gia đình người lao động và chi phí đào tạo nâng cao tay nghề.
- Khái niệm tiền công tối thiểu và tiền công kinh tế theo Giáo trình Kinh tế học của David Begg.
Tác giả so sánh định nghĩa tiền lương tại các hệ thống pháp luật quốc tế như Pháp, Nhật Bản, Đài Loan và Điều 1 Công ước số 95 (năm 1949) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về bảo vệ tiền lương. Tại Việt Nam, quá trình phát triển của khái niệm tiền lương được đối chiếu qua Điều 55 Bộ luật Lao động năm 1994, Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2012 và Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019.
Khung pháp lý điều chỉnh trực tiếp được trích dẫn và phân tích trong khóa luận bao gồm:
- Bộ luật Lao động năm 2019 (đặc biệt là Chương VI quy định từ Điều 90 đến Điều 104, cùng các Điều 8, 35, 36, 37, 39, 40, 102, 127, 129, 136).
- Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động (các Điều 54, 55, 57).
- Nghị định số 90/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng.
- Nghị định số 121/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xây dựng định mức lao động.
- Nghị định số 49/2013/NĐ-CP của Chính phủ (văn bản đã hết hiệu lực, được dùng để so sánh thực tiễn chuyển tiếp).
- Nghị định số 38/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
- Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về hợp đồng lao động, tiền lương.
- Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (Điều 89).
- Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
- Quyết định số 1980/QĐ-TLĐ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về thu đoàn phí công đoàn.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm: phương pháp phân tích luật học thực định, phân tích - tổng hợp lý luận, phương pháp so sánh quy phạm qua các thời kỳ, phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình (case study) tại các doanh nghiệp FDI trên địa bàn và phương pháp quan sát thực tiễn trong quá trình đánh giá tuân thủ lao động tại chuỗi cung ứng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề pháp lý cơ bản về tiền lương
Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về tiền lương và pháp luật tiền lương trong doanh nghiệp. Tác giả phân tích 5 chức năng cơ bản của tiền lương:
- Đòn bẩy kinh tế kích thích năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thước đo giá trị phản ánh hao phí sức lao động, thể hiện qua hệ thống thang lương, bảng lương và bậc lương.
- Tái sản xuất sức lao động nhằm bù đắp hao phí thể lực, trí lực và duy trì sự ổn định của lực lượng lao động.
- Khoản tích lũy bảo đảm đời sống lâu dài và ứng phó rủi ro kinh tế của người lao động.
- Ý nghĩa xã hội giúp người lao động tham gia các sinh hoạt cộng đồng, học tập và tái hòa nhập xã hội.
Pháp luật về tiền lương điều chỉnh quan hệ tiền lương thông qua ba phương pháp: phương pháp thỏa thuận giữa các bên, phương pháp mệnh lệnh hành chính của Nhà nước và phương pháp kết hợp giữa thỏa thuận với sự can thiệp của Nhà nước bằng khung giới hạn pháp lý. Hệ thống nguyên tắc trả lương bao gồm: người sử dụng lao động có quyền quyết định chính sách tiền lương; trả lương trên cơ sở thỏa thuận gắn với năng suất, chất lượng; trả lương không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định; không phân biệt đối xử về giới tính, màu da, sắc tộc đối với công việc có giá trị như nhau.
Nội dung pháp luật tiền lương bao quát các chế định: mức lương tối thiểu (vùng và ngành); thang lương, bảng lương; 5 nguyên tắc xây dựng định mức lao động theo Nghị định số 121/2018/NĐ-CP; hai nhóm phụ cấp lương theo Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH; 3 hình thức trả lương (thời gian, sản phẩm, khoán theo Điều 54 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP); chế độ trả lương làm thêm giờ (150%, 200%, 300%), làm việc ban đêm (thêm ít nhất 30%) và làm thêm giờ ban đêm (thêm 20% của công việc ban ngày tương ứng); quy định về thuê lại lao động và lương ngừng việc; chế độ khấu trừ lương (không quá 30% lương tháng sau thuế và các khoản bảo hiểm); quy định về tiền thưởng tại Điều 104 Bộ luật Lao động năm 2019; xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người sử dụng lao động và người lao động.
Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật về tiền lương tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại HP
Chương 2 phản ánh thực tế thực thi pháp luật tiền lương tại các doanh nghiệp FDI trên địa bàn Hải Phòng thông qua số liệu khảo sát và các vụ việc điển hình:
Áp dụng mức lương tối thiểu vùng và phụ cấp công việc nặng nhọc, độc hại:
Các doanh nghiệp FDI cơ bản tuân thủ quy định về mức lương tối thiểu theo Nghị định số 90/2019/NĐ-CP. Có đơn vị áp dụng thực hành cao hơn luật như Công ty TNHH Sao Vàng (trụ sở tại huyện An Lão thuộc Vùng I với mức 4.420.000 đồng/tháng đã tự nguyện áp dụng chung mức Vùng I cho toàn bộ các chi nhánh đặt tại các huyện thuộc tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Bình nằm ở Vùng II, III, IV).
Ngược lại, việc xác định phụ cấp công việc nặng nhọc, độc hại phát sinh xung đột giữa các doanh nghiệp lân cận. Khóa luận nêu trường hợp Doanh nghiệp A (gia công giày dép) chỉ xếp công đoạn In hưởng phụ cấp 5%, trong khi Doanh nghiệp B (may mặc) cùng địa bàn xếp công đoạn May hưởng phụ cấp 5%. Điều này dẫn đến sự việc công nhân may tại Doanh nghiệp A ngừng việc tập thể. Sau khi tiến hành đánh giá lại với sự tham gia của chính quyền địa phương, Doanh nghiệp A xác định 80% công nhân làm công việc nặng nhọc, độc hại và cuối cùng chấp thuận chi trả phụ cấp 5% cho 100% công nhân sản xuất để ổn định quan hệ lao động. Khi Nghị định số 49/2013/NĐ-CP hết hiệu lực, thực tế xuất hiện hai xu hướng: duy trì 5% nhằm giữ chân lao động, hoặc bãi bỏ khoản phụ cấp này do không còn quy định bắt buộc trong văn bản mới.
Xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động:
Các doanh nghiệp FDI đã ban hành bảng lương phân tách cho 4 nhóm đối tượng: chức danh lãnh đạo, lao động chuyên môn nghiệp vụ, lao động thừa hành phục vụ và lao động trực tiếp sản xuất. Tuy nhiên, công tác xây dựng định mức lao động đúng nghĩa hầu như không được thực hiện. Tại một nhà máy gia công giày dép với quy mô 3.000 lao động tại Hải Phòng, định mức kỹ thuật được giao bởi bộ phận Kỹ thuật công nghiệp (IE - Industrial Engineer) dưới dạng chỉ tiêu sản xuất thuần túy (ví dụ: chuyền 10 công nhân phải hoàn thành 100 đôi giày trong ca 8 giờ), thay vì quy trình xây dựng mức lao động trung bình tiên tiến có áp dụng thử nghiệm từ 15 ngày đến 3 tháng theo quy định pháp luật. Khi đơn hàng tăng, doanh nghiệp ép công nhân tăng ca 1 - 5 giờ để kịp tiến độ xuất hàng.
Hình thức chi trả và phương pháp tính lương:
Khóa luận chỉ ra tình trạng vi phạm thời giờ làm việc diễn ra phổ biến. Nhiều doanh nghiệp FDI bố trí người lao động làm thêm tới 5,5 giờ/ngày, tổng thời giờ làm việc lên tới 72 - 100 giờ/tuần, vượt xa giới hạn làm thêm không quá 50% giờ làm việc bình thường/ngày và trần 40 giờ/tháng của Bộ luật Lao động năm 2019.
Đối với hình thức trả lương theo thời gian, tác giả phân tích hai công thức tính lương tháng thực tế đang áp dụng:
| Tiêu chí |
Phương pháp 1 (Ngày công chuẩn theo tháng thực tế) |
Phương pháp 2 (Ngày công chuẩn cố định 26 ngày) |
| Công thức tính |
[Lương + Phụ cấp] / Ngày công chuẩn * Ngày làm thực tế |
[Lương + Phụ cấp] / 26 * Ngày làm thực tế |
| Bản chất mức lương |
Mức lương tháng cố định nếu đi làm đủ ngày; chỉ trừ khi nghỉ không lương. |
Mức lương tháng biến động theo số ngày làm việc thực tế trong tháng. |
| Ví dụ thực tế (Tháng 3/2021 có 27 ngày công, lương 5.000.000 đồng) |
5.000.000 / 27 * 27 = 5.000.000 đồng |
5.000.000 / 26 * 27 = 5.192.307 đồng |
| Ảnh hưởng đến người lao động |
Đảm bảo thu nhập ổn định theo thỏa thuận ban đầu. |
Tạo sự chênh lệch thu nhập giữa các tháng có số ngày công khác nhau (24, 26, 27 ngày). |
Chế độ tiền thưởng và trả lương trường hợp đặc biệt:
Khảo sát ghi nhận tiền thưởng cuối năm (tháng lương 13) được áp dụng rộng rãi. Điển hình như Doanh nghiệp H (100% vốn Nhật Bản, KCN Nomura Hải Phòng, sản xuất lắp ráp robot) áp dụng quy chế: người lao động làm đủ 12 tháng được thưởng 12 tháng lương cơ bản theo hợp đồng. Công nhân A làm việc đủ 2 năm (lương cơ bản 5.000.000 đồng) nhận thưởng 60.000.000 đồng; Công nhân B làm việc 6 tháng nhận thưởng tỷ lệ tương ứng là 30.000.000 đồng.
Về chế độ làm thêm giờ ban đêm, khóa luận chi tiết hóa cách tính theo Điều 98 Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP:
| Trường hợp làm thêm giờ vào ban đêm |
Tỷ lệ thanh toán so với đơn giá lương giờ ban ngày bình thường (A) |
| Ngày thường (không làm thêm giờ ban ngày) |
(150%A + 30%A + 20% * 100%A) = 200%A |
| Ngày thường (có làm thêm giờ ban ngày) |
(150%A + 30%A + 20% * 150%A) = 210%A |
| Ngày nghỉ hằng tuần |
(200%A + 30%A + 20% * 200%A) = 270%A |
| Ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương |
(300%A + 30%A + 20% * 300%A) = 390%A |
Thực trạng các khoản khấu trừ lương:
Tác giả tổng hợp các sai phạm và bất cập trong việc thực hiện nghĩa vụ khấu trừ lương tại các doanh nghiệp FDI:
| Khoản mục khấu trừ |
Quy định pháp luật |
Thực tiễn tại doanh nghiệp FDI Hải Phòng |
| Bảo hiểm xã hội bắt buộc |
Đóng trên mức lương, phụ cấp; trần đóng tối đa bằng 20 tháng lương cơ sở (29.800.000 đồng/tháng theo mức cơ sở 1,49 triệu đồng). |
Doanh nghiệp gia công nhỏ tại vùng ven (ví dụ doanh nghiệp Đài Loan tại Tiên Lãng) trốn đóng BHXH, chỉ đóng cho cán bộ quản lý hoặc người làm việc lâu năm nhằm giảm chi phí nhân công. |
| Đoàn phí công đoàn |
Thu 1% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, tối đa 10% mức lương cơ sở (149.000 đồng). |
Doanh nghiệp thu cào bằng mức cố định 50.000 đồng/người/tháng cho toàn bộ nhân viên; công đoàn cấp trên vẫn chấp thuận thu. |
| Chấm dứt hợp đồng trái luật |
Bồi thường nửa tháng tiền lương, tiền lương ngày không báo trước và chi phí đào tạo (Điều 40 BLLĐ 2019). |
Xử lý không thống nhất: trừ trực tiếp vào lương đã làm; giữ lương nửa tháng làm việc; hoặc chấp thuận cho nghỉ không phạt (kể cả trường hợp tài trợ đi đào tạo nước ngoài chỉ về làm 2 tháng rồi nghỉ). |
| Bồi thường thiệt hại vật chất |
Khấu trừ tối đa không quá 30% lương tháng sau thuế và bảo hiểm (Điều 102, Điều 129). |
Doanh nghiệp hầu như không áp dụng khấu trừ bồi thường vật chất và không ký hợp đồng trách nhiệm; chủ yếu xử lý kỷ luật bằng khiển trách hoặc kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng. |
Chương 3: Một số kiến nghị về pháp luật và việc tổ chức thực hiện tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về tiền lương
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, khóa luận đề xuất 6 nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực thực thi:
- Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về quy trình xây dựng định mức lao động: Cần có hướng dẫn kỹ thuật chi tiết phù hợp với từng ngành sản xuất để chấm dứt tình trạng áp đặt chỉ tiêu cơ học thông qua bộ phận Kỹ thuật công nghiệp (IE), đảm bảo sức khỏe cho người lao động.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước: Tập trung thanh tra chuyên đề chế độ tiền lương, thời giờ làm thêm và trích nộp bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp FDI đóng tại địa bàn nông thôn, huyện ngoại thành.
- Quy định mức chế tài xử phạt vi phạm hành chính đủ mạnh: Nâng cao mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm trần thời gian làm thêm giờ (72 - 100 giờ/tuần) và hành vi trốn đóng BHXH nhằm răn đe các đơn vị cố tình vi phạm.
- Nâng cao vai trò của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở: Phát huy thực quyền của Công đoàn cơ sở trong việc tham gia xây dựng thang bảng lương, giám sát công bố công khai quy chế trả lương và đại diện thương lượng thỏa ước lao động tập thể.
- Quy định chi tiết về quy chế tiền thưởng trong văn bản quy phạm pháp luật: Cần có tiêu chí khung định lượng hóa căn cứ xét thưởng, hạn chế sự tùy nghi của người sử dụng lao động nhằm giảm thiểu tranh chấp lao động vào dịp cuối năm.
- Đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác nhân sự, tiền lương trong doanh nghiệp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật lao động mới cho cán bộ làm công tác C&B và bộ phận Tuân thủ (Compliance) tại các nhà máy FDI.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và chỉ ra bức tranh thực tế về công tác thi hành pháp luật tiền lương tại địa bàn kinh tế trọng điểm Hải Phòng ngay sau thời điểm Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực:
- Cung cấp các số liệu và trường hợp thực tế về việc áp dụng lương tối thiểu vùng, xung đột trong áp dụng phụ cấp độc hại 5% tại các doanh nghiệp gia công giày dép, may mặc.
- Chỉ ra sự thiếu vắng của việc xây dựng định mức lao động theo luật định, thay vào đó là sự can thiệp của chỉ tiêu sản xuất do bộ phận IE thiết lập khiến người lao động phải tăng ca từ 1 đến 5 giờ mỗi ngày, cá biệt có doanh nghiệp ghi nhận thời giờ làm việc từ 72 đến 100 giờ/tuần.
- Phân tích và mô hình hóa hai phương pháp tính lương thời gian, chỉ rõ mức chênh lệch thu nhập giữa cách tính theo ngày công thực tế và ngày công chuẩn 26 ngày (5.000.000 đồng so với 5.192.307 đồng trong tháng có 27 ngày làm việc).
- Ghi nhận thực trạng thu sai quy định đoàn phí công đoàn (thu cào bằng 50.000 đồng/tháng thay vì 1% tiền lương đóng BHXH) và hiện tượng trốn đóng BHXH cho công nhân tại các xưởng gia công quy mô nhỏ ở huyện Tiên Lãng.
- Làm rõ chính sách thưởng tết đặc thù của doanh nghiệp FDI công nghệ cao (thưởng 12 tháng lương cơ bản tại Doanh nghiệp H thuộc KCN Nomura).
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc đối chiếu giữa các điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 với thực tiễn chuyển tiếp tại địa phương, phản ánh những khó khăn của doanh nghiệp khi Nghị định số 49/2013/NĐ-CP hết hiệu lực và cung cấp căn cứ thực tiễn để cơ quan quản lý hoàn thiện văn bản dưới luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn nhất định bắt nguồn từ phạm vi tiếp cận dữ liệu:
- Địa bàn khảo sát thực tế mới tập trung tại thành phố Hải Phòng và chủ yếu giới hạn trong các doanh nghiệp thuộc ngành giày da, may mặc, cơ khí lắp ráp và chuỗi cung ứng mà tác giả tiếp cận được trong quá trình thực tập tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Deckers Outdoor.
- Khóa luận được hoàn thành vào giữa năm 2021, thời điểm Bộ luật Lao động năm 2019 mới có hiệu lực thi hành chưa đầy một năm, do đó chưa thể đánh giá toàn diện tác động lâu dài của chính sách và các văn bản hướng dẫn xử phạt hành chính mới ban hành sau thời điểm này.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát so sánh thực trạng tiền lương tại các doanh nghiệp FDI thuộc các vùng kinh tế trọng điểm khác, hoặc nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tập thể bắt nguồn từ quy chế tiền lương và tiền thưởng trong các khu kinh tế ven biển.
Giá trị tham khảo
Nội dung khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Luật, Luật Kinh tế, Quản trị Nhân lực: Sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp phân tích quy phạm pháp luật lao động gắn liền với tình huống giải quyết tranh chấp thực tế (vụ việc phụ cấp độc hại, phương pháp tính lương tháng, tính lương làm thêm ban đêm).
- Cán bộ nhân sự, chuyên viên tiền lương và chế độ (C&B), bộ phận Tuân thủ (Compliance) tại các doanh nghiệp FDI: Tham khảo các mô hình bảng lương 4 nhóm đối tượng, công thức tính tiền lương làm thêm giờ ban đêm theo Nghị định số 145/2020/NĐ-CP và các phương án xử lý kỷ luật khi người lao động vi phạm thời hạn báo trước.
- Cơ quan quản lý nhà nước về lao động và tổ chức Công đoàn: Sử dụng các dữ liệu phản ánh về vi phạm thời giờ làm thêm (72 - 100 giờ/tuần), trốn đóng BHXH ở ngoại thành và bất cập trong thu đoàn phí cào bằng để phục vụ công tác thanh tra, giám sát.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận chỉ ra điểm khác biệt cốt lõi nào giữa hai phương pháp tính lương thời gian tại doanh nghiệp FDI?
Phương pháp 1 chia tiền lương cho số ngày công chuẩn thực tế của tháng (ví dụ 24, 26, 27 ngày) rồi nhân với số ngày làm việc thực tế, giúp mức thu nhập cố định nếu người lao động đi làm đủ ngày. Phương pháp 2 chia lương cố định cho 26 ngày rồi nhân với ngày công thực tế, dẫn đến thu nhập biến động giữa các tháng (cùng mức lương 5.000.000 đồng, tháng có 27 ngày công người lao động nhận 5.192.307 đồng theo Phương pháp 2, cao hơn Phương pháp 1).
Doanh nghiệp FDI ngành giày dép tại Hải Phòng thực hiện định mức lao động như thế nào trong thực tế?
Hầu hết các doanh nghiệp không xây dựng định mức lao động theo đúng trình tự pháp luật mà sử dụng bộ phận Kỹ thuật công nghiệp (IE) để ấn định chỉ tiêu năng suất sản xuất (ví dụ một chuyền 10 công nhân phải làm 100 đôi giày trong ca 8 giờ). Khi đơn hàng nhiều, doanh nghiệp yêu cầu công nhân làm thêm từ 1 đến 5 giờ để hoàn thành khối lượng sản phẩm đề ra.
Tranh chấp về phụ cấp công việc nặng nhọc, độc hại 5% tại các doanh nghiệp lân cận được tác giả ghi nhận ra sao?
Tại một khu vực ở Hải Phòng, công nhân Doanh nghiệp A ngừng việc vì cùng làm công đoạn may nhưng Doanh nghiệp B lân cận được hưởng phụ cấp độc hại 5% theo Nghị định số 49/2013/NĐ-CP còn Doanh nghiệp A thì không. Sau khi thanh tra lại và xác định 80% công nhân thuộc diện này, Doanh nghiệp A đã quyết định chi trả phụ cấp 5% cho toàn bộ 100% công nhân sản xuất để ổn định tình hình.
Thực trạng trích nộp đoàn phí công đoàn tại các doanh nghiệp FDI Hải Phòng có điểm gì không đúng với quy định pháp luật?
Theo Điều 23 Quyết định số 1980/QĐ-TLĐ, mức đóng đoàn phí bằng 1% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH (tối đa bằng 10% lương cơ sở, tương đương 149.000 đồng vào năm 2021). Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp FDI thường trích cào bằng một mức cố định (khoảng 50.000 đồng/tháng/người) cho tất cả nhân viên và công đoàn cấp trên vẫn chấp thuận việc này.
Doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng xử lý như thế nào khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vi phạm thời hạn báo trước?
Thực tế ghi nhận 3 cách xử lý: (1) Khấu trừ vào tiền lương những ngày làm việc thực tế tương ứng với số ngày không báo trước; (2) Tạm giữ toàn bộ khoản tiền lương của nửa tháng làm việc trước khi nghỉ việc; (3) Doanh nghiệp chấp thuận cho nghỉ việc và thanh toán đầy đủ lương mà không áp dụng biện pháp khấu trừ hay yêu cầu bồi hoàn chi phí đào tạo.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Văn Hoàng đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tiền lương và phân tích chi tiết thực tiễn thi hành pháp luật lao động tại các doanh nghiệp FDI trên địa bàn Hải Phòng. Công trình chỉ rõ sự đối lập giữa việc tuân thủ nghiêm túc mức lương tối thiểu vùng với tình trạng vi phạm thời giờ làm việc, sai phạm trong trích nộp BHXH và sự hình thức trong xây dựng định mức lao động. Các kiến nghị được đưa ra tập trung giải quyết những vướng mắc phát sinh từ quá trình thực thi Bộ luật Lao động năm 2019, đóng góp tài liệu thực tiễn cho công tác quản lý lao động tại địa phương.