CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA ĐỀ TÀI I. Khái niệm về kinh tếtrang trai: 1.1 Một số định nghĩa về kinh tế trang trại: Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao do tập trung được khả nang cơ giới hoá lớn, vốn, đất dai và lao dong. Ở nước ta kinh tế trang trại có từ lâu đời, tuy nhiên qua các thời kỳ lịch sử, kinh tế trang trại cũng có lúc thang cũng có lúc trầm. Trong những năm gắn đây với đường lối đổi mới của Đảng chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phan, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hộ nông dân được khẳng định là đơn vị kinh tế tự chủ thì kinh tế trang trại được phát triển nhanh chóng ở khắp mọi miền đất nước.
Song, cho đến nay xung quanh vấn để kinh tế trang trại có rất nhiều ý kiến khác nhau. Trên thế giới. người ta thường dùng các thuật ngữ: Ferme (Pháp), Farm (Anh). thường được dich sang tiếng Việt là “Trang trại” là cơ sở sản xuất vùng nghiệp gắn với hộ gia đình nông dân.
Ngay như Các Mác, khi người viết tác phẩm cuối cùng thì người cho rằng : “Ngay ở nước Anh, với nền công nghiệp phát triển hình thức sản xuất nông nghiệp có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp lớn mà là các trang trại gia đình, dùng lao động làm thuê ”. PGS-PTS Lê Trọng đưa ra khái niệm về kinh tế trang trại như sau : Kinh tế trang trại bao gồm kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nên sản xuất nông nghiệp xã hội, bao gồm một số người lao động được các chủ trang trại trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với yêu cầu thị trường được nhà nước bảo hộ. Tran Hữu Quang- Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng : “Trang trại là hình thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao đông và đất dai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân. tự chủ sản xuất kinh doanh và bình đẳng với các thành phần kinh tế khúc.
có chức nang chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá tạo ra nguồn thu nhập chính cho gia đình và đáp ứng nhu cau cho xã hội ”. Có tác giả cho rằng : "Kinh tế trang trại là loại hình tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông-lâm nghiệp của một chủ hộ có sức đầu tư lớn ; có nang lực S422: Dink 2faac Sem Trang 7 Kha ludn tất so4¿¿A 6127: 7S Pham Thi Ruan The quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có cái đầu dám nghĩ đến điều mà ngưới khác chưa nghĩ tới. có phương pháp tạo ra sức xinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới tao ra sức cạnh tranh cao trên thị trường xã hội. mung lại hiệu qua kinh tế cao hơn rất nhiều lẫn bình quân kính tế hộ trong vùng `.
Theo ban kinh tế Tỉnh Ủy Binh Dương đưa ra khái niệm “Kinh tế trang trai là đơn vị sản xuất nông -lâm- ngư nghiệp. lấy diện tích đất dai là tư liệu chủ yếu để tạo ra sản phẩm hàng hoá, có thuê mướn lao động có quy mô diện tích và thu nhập lớn hơn mức bình quân chung của địa phương từ ba lần trở lên”. Theo ban kinh tế Tỉnh Ủy Binh Thuận quan niệm : “Trang trai là hình thức tổ chức sản xuất của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tuỳ theo từng loại hình có sử dụng diện tích đất đai hơn mức bình quân chung của vùng từ 7- 10 lan trở lên, có thuê mướn lao động, tạo ra tỷ suất hàng hoá cao hơn nhiều lin so với mức bình quân chung trong vùng ”. Ban kính tế Tỉnh Uỷ Lâm Đồng cho rằng : “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả trong nông nghiệp với đặc trưng cơ bản là sản xuất ra hàng hoá có tỷ suất giá trị cao”.
Ở một tỉnh miễn núi phía bac, ban kinh tế Tỉnh Ủy Yên Bái quan niệm kinh tế trang trại như sau : “Kinh tế trang trại là hình thức kinh tế nông-lâm-ngư nghiệp, hình thành chủ yếu từ kinh tế hộ gia đình với sự tập trung tích tụ cao hơn vẻ đất đai, tiền vốn, lao động. chuyên môn hóa san xuất với tỷ suất cao. Chủ trang trại là người có ý chí, có vốn có kinh nghiệm trong quản lý sản xuất Tóm lại "Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong néng-lam-ngu nghiệp. được hình thành phố biển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình trên một địa bàn tương đối tập trung.
có tỷ suất về khổi lượng hàng hoá lớn; có quy mô về tích tụ vốn, đất dai, lao động ở một mức độ nhất định phù hợp với từng loại cây trồng vật nuôi. ngành nghề và địa bàn sản xuất ở một thời điểm vác định. Chủ trang trại là người trực tiếp tham gia lao động quản lý sản xuất kinh doanh, có năng lực và trình độ tổ chức quản ly’, biết tiếp thu và ting dung các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh làm cho năng suất cây trắng vật nuôi, ngành nghệ và năng suất lao đông không ngừng tăng lên dem lai hiệu quả kính tế lớn °. Dink Nyse Sa Trang # Z⁄đáa tudn tết nghiép GUAD: 7S Pham Thi Rua The 1.2 Bản chất -đặc trưng của kinh tế trang trai: 1.1 Bản chất của kinh tế trang trại: Trên thế giới loại hình kinh tế trang trại ra đời thay thế cho loại hình kinh tế tự cấp, tự túc là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan của su phát triển của lực lượng sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.
Vẻ bản chất : kinh tế trang trại là kinh tế sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp khác với kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp. Cúc Mác đã phân biệt người chủ trang trại với người tiểu nông ở chỗ : Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết sản phẩm họ làm ra, con người tiểu nông thì dùng đại bộ phận sản phẩm sản xuất được. mua bán càng ít càng tốt. Tuy nhiên, giữa chúng cũng có điểm giống nhau đó là đều lấy đơn vị gia đình làm cơ sở, lấy gia đình làm nòng cốt.
Và quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại là quá trình chuyển từ kinh tế hộ nông dân tự cấp tự túc sung sản xuất hang hoá ở mức độ cao. Ở Việt Nam, việc hình thành và xuất hiện kinh tế trang trại cũng không nằm ngoài những thông lệ của quy luật phát triển lực lượng sắn xuất nói trên.2 Đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại: Với những vấn để wén, chúng ta có thể rút ra được những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại là : e Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sin xuất kinh doanh trong nông-lâm-ngư nghiệp được hình thành phổ biến trên cơ sở kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hoá gắn với thị trường. e Các trang trại có sự tập trung tích tụ cao hơn rõ rệt so với mức bình quân của các hộ kinh tế gia đình trong xã hội, ở từng vùng về điều kiện sản xuất (đất dai, vốn, lao động.) đạt khối lượng và sản phẩm hàng hoá lớn hơn, thu được Idi nhuận nhiễu hơn. e Chủ trang trai là người trực tiếp sản xuất hoặc quản lý sản xuất kinh doanh.
có ý chí làm giàu, có diéu kiện và biết làm giàu, có vốn, trình độ kỹ thuật, có hiểu biết nhất định về thị trường, có nhu cầu cao hơn kinh tế hộ về tiếp thị, tác dụng của khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, vẻ sự phát triển của công nghiệp chế biến để hiệu quả sản xuất đạt mức cao nhất. e Sử dụng sức lao động gia đình là chính, có thuê mướn lao dong theo thời gian hoặc thường xuyên. từ 2-10 người hoặc hơn để sản xuất kinh doanh. S124: Dink Nose Sem “rang 7 2/44 ludn tát ughii~ ‘ g122: TS Pham Thi Huan “7a e Sử dụng vốn đầu tư của gia đình là chính, có khả năng huy động vốn biết áp dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất kinh doanh.
e Có thể tích tụ tập trung thêm ruộng đất bằng nhiều phương thức khác nhau (thuê mướn, khai hoang mở rộng diện tích. chuyển nhượng tự do.3 Tiêu thức để nhận dạng kinh tế trang trại: Để nhận dang kinh tế trang trại. chúng ta cần xuất phát từ các đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại. Hiện nay, trong việc xác định tiêu thức nhân dạng kinh tế trang trại có sự chưa đồng nhất giữa các địa phương trong cả nước.
Chẳng hạn theo ban kinh tế Tỉnh Ủy Long An, các tiêu chí trang trai là: “có tỷ xuất hàng hoá từ 90 - 100%, vốn đấu tưtối thiểu là 100 triệu đồng. lao động thuê mướn từ 5-10 người. Thu nhập gấp 6 lan bình quân chung của hộ nông dân”. Theo ban kinh tế Tỉnh Ủy Bình Dương thì “diện tích cây hàng năm và cây ăn quả tối thiểu là 3ha/hộ, diện tích cây công nghiệp dài ngày tối thiểu là Sha/hộ, diện tích lâm nghiệp tối thiểu là 10 ha, chăn nuôi gia súc : trâu bò từ 100 con trở lên, heo từ 200 con trở lên, chăn nuôi gà công nghiệp tối thiểu là S00 con, thu nhập hàng năm là 150 triệu đồng /1 hộ”.
Theo tác giả Tran Trac (Ban kinh tế TW) viết trong báo Nhân Dan ngày 25/3/2000 cho rằng, tiêu chí để phân biệt kinh tế trang trại đối với các loại hình kinh tế khác trong nông nghiệp ngư nghiệp là: “ Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh phải đạt từ 100-149 triệu déng/ năm, trong đó tỷ suất nông lim, thủy sản hàng hoá phải đạt hơn 85%. Lao động chủ yếu là gia đình, nhưng có thuê mướn lao động trực tiếp thường xuyên và thời vụ khoảng 5 lao động qui đổi. Chủ trang trại phải áp dụng hiệu quả một số tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất định trong quá trình quản lý và điều hành sản xuất. Diện tích đất đai tùy theo cây trong, vật nuôi nhưng tối thiểu từ 0,5 ha trở lên.