Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng, nguyên nhân và các giải pháp phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn tỉnh Cà Mau" do sinh viên Ngô Thị Vân thực hiện (hướng dẫn khoa học: ThS. Đỗ Thị Nhung, Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, 2013) xuất phát từ bối cảnh tự nhiên đặc thù của tỉnh Cà Mau. Cà Mau là tỉnh địa đầu cực Nam với 3 mặt giáp biển, đường bờ biển dài 254 km và mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt có tổng chiều dài trên 10.000 km. Mạng lưới thủy văn này giữ vai trò sống còn trong giao thông thủy, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, chế độ thủy động lực phức tạp và áp lực phát triển kinh tế - xã hội, hiện tượng sạt lở bờ sông, bờ biển diễn ra với tần suất cao và quy mô ngày càng trầm trọng, đe dọa các khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật và cản trở phát triển kinh tế địa phương.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát, đánh giá toàn diện tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển tại tỉnh Cà Mau; xác định các nguyên nhân cơ bản tác động đến quá trình sạt lở; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình nhằm giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ môi trường sinh thái và hướng tới phát triển bền vững.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tìm hiểu thực trạng sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
  2. Chỉ ra các nguyên nhân dẫn tới hiện tượng sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn nghiên cứu.
  3. Đưa ra các giải pháp phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại do hiện tượng sạt lở gây ra nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Phạm vi và giới hạn của đề tài:

  • Không gian: Toàn bộ phạm vi lãnh thổ hành chính tỉnh Cà Mau (bao gồm thành phố Cà Mau và 8 huyện trực thuộc).
  • Thời gian: Thu thập số liệu, đánh giá hiện trạng và xu thế diễn biến sạt lở từ năm 1995 đến năm 2013.
  • Nội dung: Tập trung vào hiện trạng sạt lở, cơ chế thủy động lực, nguyên nhân tự nhiên - nhân sinh và các giải pháp kỹ thuật, quản lý phòng chống sạt lở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm, cơ chế thủy lực và phân cấp tai biến địa mạo ven sông, ven biển:

  • Khái niệm và phân loại sạt lở: Sạt lở đất bờ sông, bờ biển được xác định là hiện tượng mất ổn định và dịch chuyển khối đất tự nhiên dưới tác động của sóng, dòng chảy, thay đổi mực nước và tải trọng nhân sinh. Khóa luận phân cấp sạt lở thành 3 mức độ:
    • Sạt lở đặc biệt nguy hiểm: Sạt lở đe dọa trực tiếp chân đê từ cấp đặc biệt đến cấp I, khu đô thị, cơ quan hành chính từ cấp huyện, hạ tầng trọng điểm (quốc lộ, đường dây điện $\ge$ 66 kV, bệnh viện), hoặc tốc độ xâm thực ăn sâu vào bờ $> 5\text{ m/năm}$.
    • Sạt lở nguy hiểm: Ảnh hưởng ngoài phạm vi đê cấp đặc biệt đến cấp III, khu dân cư tập trung, đường điện trung thế, tốc độ lấn bờ từ $2\text{ đến }4\text{ m/năm}$.
    • Sạt lở bình thường: Các trường hợp sạt lở nhỏ lẻ ngoài hai mức độ trên.
  • Cơ chế thủy lực và cơ học đất: Phân tích ứng suất gây sạt lở bờ thông qua các yếu tố: sóng và dòng chảy ngược do tàu thuyền (sóng đuôi $> 2\text{ m/s}$, vượt xa vận tốc khởi động bùn cát $V_{\text{kđ}} = 0{,}6 - 0{,}8\text{ m/s}$); hiện tượng tạo hàm ếch trong mùa kiệt; dao động bán nhật triều không đều Biển Đông (biên độ $3 - 3{,}5\text{ m}$) và nhật triều Biển Tây (biên độ $\sim 1\text{ m}$); hiện tượng gia tải trên mép bờ khi đất có lực dính thấp ($0{,}7 - 1{,}0\text{ tấn/m}^2$) và góc ma sát trong nhỏ ($\varphi = 6^\circ - 7^\circ$).

Phương pháp và quan điểm nghiên cứu gồm:

  • Quan điểm nghiên cứu: Quan điểm hệ thống; quan điểm tổng hợp lãnh thổ; quan điểm lịch sử - viễn cảnh; quan điểm sinh thái và phát triển bền vững.
  • Phương pháp thu thập tài liệu: Kế thừa số liệu, báo cáo từ Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, Cục Thống kê Cà Mau, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cà Mau.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Xử lý chuỗi số liệu thủy văn, đo đạc lòng dẫn và biến động địa mạo giai đoạn 1995–2011.
  • Phương pháp bản đồ: Xây dựng, biên tập bản đồ phân bố vị trí sạt lở và địa hình khu vực.
  • Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế các điểm sạt lở, đo đạc vết nứt, biến dạng mái kè và hiện trạng công trình xây dựng ven bờ sông, bờ biển Cà Mau.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết về cơ chế tạo sóng do phương tiện thủy giao thông, dòng chảy ngược làm xói chân bờ và sóng ngang, sóng đuôi phá hủy phần mái bờ trên mực nước. Khi tàu thuyền có tải trọng từ 30 tấn trở lên lưu thông trong lòng kênh hẹp (như kênh Lộ Xe, sông Cái Tàu, sông Trẹm Trẹm), lực đẩy dòng tia chân vịt và dòng chảy ngược thúc đẩy phá hủy chân bờ.

Về mặt thực tiễn, Cà Mau đối mặt với 4 vấn đề cấp bách:

  1. Ngập úng trong mùa mưa: Triều cường kết hợp mưa lớn (tháng 8–11) gây ngập $0{,}3 - 0{,}5\text{ m}$; đợt mưa tháng 8/2004 làm ngập 29.000 ha lúa hè thu và hoa màu.
  2. Xâm nhập mặn, phèn hóa: Nguồn mặn từ Biển Đông (qua sông Gành Hào) và Biển Tây (qua sông Ông Đốc) làm độ mặn đầu mùa khô vượt quá $14\text{ g/l}$ trên phần lớn diện tích.
  3. Ô nhiễm môi trường nước: Nước thải từ nuôi trồng thủy sản, nhà máy chế biến và sinh hoạt đô thị xả trực tiếp ra sông rạch.
  4. Thiếu hụt nguồn nước ngọt sinh hoạt, sản xuất: Nhu cầu nước phụ thuộc nước mưa và nước ngầm tầng nông, trong khi các đập ngăn mặn bị xâm hại.
Chỉ tiêu cơ học / Tải trọng mép bờ ($P$) Hệ số ổn định mái bờ ($K_{\min}$) Mức độ suy giảm ổn định
Trạng thái tự nhiên ($P = 0$) Năm Căn: $K_{\min} = 1{,}00$; Tân Tiến: $K_{\min} = 1{,}13$ Ổn định tạm thời
Gia tải $P = 1{,}5\text{ T/m}^2$ (san lấp $1{,}0 - 1{,}5\text{ m}$) Giảm tương ứng Giảm $7% - 14%$
Gia tải $P = 2{,}0\text{ T/m}^2$ Giảm mạnh Giảm $23% - 25%$

Chương 2: Thực trạng sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá chi tiết tình hình sạt lở tại các trọng điểm và từng đơn vị hành chính:

  • Đặc điểm tự nhiên: Toàn tỉnh phủ trầm tích trẻ Holocen thuộc kỷ Đệ Tứ dày $800 - 1000\text{ m}$, nền đất yếu sét xám hạt mịn, không có Laterite và sỏi sạn. Nhóm đất mặn chiếm $39{,}6%$ (208.000 ha), đất phèn chiếm $54{,}6%$ (271.000 ha). Hệ sinh thái rừng ngập mặn chiếm $77%$ diện tích rừng ngập mặn vùng ĐBSCL.
Mức độ phân cấp sạt lở bờ sông tại các huyện/thành phố:
  • Các điểm nóng sạt lở bờ sông:
    • Sông Cái Nai (khu vực chợ Năm Căn): Trong 11 năm (2000–2011), lòng dẫn sạt sâu trung bình $1{,}7\text{ m}$ (tốc độ $0{,}15\text{ m/năm}$), vị trí ngã ba sông Cửa Lớn sạt sâu $1{,}8\text{ m}$ (cục bộ sâu $3\text{ m}$). Tháng 5/2003, trượt bờ làm chìm 18 căn nhà bán kiên cố. Dự báo đến năm 2020 lòng dẫn sạt sâu thêm $1{,}6 - 2{,}1\text{ m}$.
    • Sông Đầm Dơi (thị trấn Đầm Dơi): Đoạn qua thị trấn sạt lở cả hai bên bờ với tổng chiều dài $4.000\text{ m}$; giai đoạn 2000–2011 lòng sông xói sâu $0{,}5\text{ m}$.
    • Sông Đầm Chim (khu vực chợ Tân Tiến): Chiều dài sạt lở $1.900\text{ m}$. Bờ lõm xói sâu $1{,}2 - 1{,}8\text{ m}$, bờ lồi bồi lắng $0{,}5 - 1{,}5\text{ m}$.
    • Sông Cửa Lớn (chợ Cả Nảy, xã Hàng Vịnh): Phạm vi sạt lở $2\text{ km}$, xói sâu đáy $> 1{,}3\text{ m}$ (2007–2010), tốc độ $0{,}4\text{ m/năm}$.
    • Cửa sông Gành Hào: Tốc độ xói lở lấn bờ đạt tới $30\text{ m/năm}$ do tác động trực tiếp của sóng biển mùa gió Đông.
    • Kênh Xáng Cà Mau - Bạc Liêu và Cà Mau - Cái Nước: Hiện tượng xây cất nhà sàn, lấn chiếm hành lang làm thu hẹp dòng chảy, tăng áp lực tải trọng mép bờ, sạt lở tập trung vào ban đêm đầu mùa mưa (tháng 5–6) khi triều kiệt.

Chương 3: Nguyên nhân và giải pháp phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Chương 3 phân tích nguyên nhân tổng hợp và đề xuất các nhóm biện pháp phòng ngừa, khắc phục:

  • Nhóm nguyên nhân chính:
    • Tự nhiên: Nền địa chất trầm tích sét mịn yếu; chênh lệch triều và dòng chảy xiết giữa hai biển; lưu tốc sóng gió, sóng triều; dòng chảy uốn khúc tại bờ lõm; nước mưa làm bão hòa đất và giảm liên kết hạt.
    • Nhân sinh: Tàu cao tốc và ghe thuyền tải trọng lớn tạo sóng liên tục; lấn chiếm lòng sông xây cất nhà cửa, kho bãi gia tải mép bờ; nạn phá rừng phòng hộ ngập mặn để làm đầm nuôi tôm công nghiệp.
  • Hệ thống giải pháp:
    • Giải pháp phi công trình: Quy hoạch không gian dân cư ven sông, lập hành lang bảo vệ luồng thủy; di dời các hộ dân ở vùng nguy cơ sạt lở cao; cắm biển báo hạn chế tốc độ tàu thuyền; quản lý chặt chẽ cốt san nền xây dựng và nghiêm cấm phá rừng ngập mặn.
    • Giải pháp công trình: Áp dụng đê kè mềm sinh học (trồng cây chắn sóng trên kênh Xáng Thọ Mai); đóng cọc tràm xa bờ để giảm năng lượng sóng; sử dụng thảm cát, thảm bê tông bảo vệ mái bờ.
    • Khắc phục lỗi kỹ thuật công trình kè: Phân tích nguyên nhân sụp đổ công trình kè tại sông Cái Nai, sông Cửa Lớn (huyện Năm Căn), rạch Mương Điều và Bưu điện Đầm Dơi do sạt lở mất chân kè hoặc thiếu khe lún co giãn gây nứt gãy thân tường bê tông.

Kết quả và đóng góp

Tuyến sông / Khu vực sạt lở trọng điểm Chiều dài đoạn sạt lở Chiều sâu xói lòng dẫn / Tốc độ sạt lở Diễn biến và dự báo
Sông Cái Nai (Thị trấn Năm Căn) Dọc khu chợ Năm Căn, bờ tả $200\text{ m}$, bờ hữu $100\text{ m}$ Sạt sâu lòng dẫn $1{,}7\text{ m}$ (2000–2011); cục bộ sâu $3\text{ m}$ tại ngã ba Cửa Lớn Dự báo đến 2020 sạt sâu thêm $1{,}6 - 2{,}1\text{ m}$ ($0{,}15 - 0{,}20\text{ m/năm}$)
Sông Đầm Dơi (Thị trấn Đầm Dơi) Tổng chiều dài $4.000\text{ m}$ cả 2 bờ Lòng sông sạt sâu $0{,}5\text{ m}$ (2000–2011) Dự báo đến 2020 sạt sâu trung bình $1{,}6\text{ m}$
Sông Đầm Chim (Chợ Tân Tiến) $1.900\text{ m}$ chia làm 2 đoạn Bờ lõm xói sâu $1{,}2 - 1{,}8\text{ m}$; bờ lồi bồi lắng $0{,}5 - 1{,}5\text{ m}$ Dự báo đến 2020 xói sâu $1{,}3 - 2{,}1\text{ m}$ ($0{,}3 - 0{,}5\text{ m/năm}$)
Sông Cửa Lớn (Chợ Cả Nảy, Hàng Vịnh) Đoạn cong $2\text{ km}$ quanh chợ Sạt sâu $> 1{,}3\text{ m}$ (2007–2010); tốc độ $0{,}4\text{ m/năm}$ Dự báo đến 2020 sạt sâu $1{,}3 - 1{,}8\text{ m}$ (đoạn cong sâu $2{,}1\text{ m}$)
Cửa sông Gành Hào Khu vực thị trấn Gành Hào Tốc độ sạt bờ trung bình $30\text{ m/năm}$ Sạt lở mãnh liệt trong mùa gió Đông (tháng 11 đến tháng 4)
Kênh Xáng Thọ Mai (Huyện Phú Tân) $7\text{ km}$ tại xã Phú Mỹ, Phú Thuận Tốc độ lấn bờ trung bình $3\text{ m/năm}$ Đe dọa các khu dân cư và trụ sở hành chính

Khóa luận đóng góp hệ thống tư liệu thực địa và số liệu đo đạc chi tiết về tai biến sạt lở riêng cho địa bàn Cà Mau. Công trình khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu trước đây (vốn chỉ tập trung diện rộng trên dòng chính sông Tiền, sông Hậu của Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam), cung cấp dẫn chứng cụ thể về lỗi kỹ thuật xây dựng kè kiên cố (thiếu khe lún, xói chân kè) dẫn đến sập đổ công trình tại các huyện Năm Căn, Đầm Dơi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn số liệu khí tượng thủy văn và đo đạc lòng dẫn thu thập còn phân tán, chưa có chuỗi quan trắc liên tục và đồng bộ giữa các nhánh kênh nhỏ. Dữ liệu xói lở bờ biển Tây và bờ biển Đông chủ yếu kế thừa từ các dự án chung, chưa thực hiện mô phỏng số trị độc lập về trường dòng chảy ven bờ.
  • Hướng mở rộng: Mở rộng nghiên cứu định lượng về tương tác bùn cát ven biển trong bối cảnh nước biển dâng; ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS đa thời gian để tự động hóa việc theo dõi biến động đường bờ sông, bờ biển trên toàn bán đảo Cà Mau.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học các ngành Địa lí học, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Thủy lợi, Địa kỹ thuật công trình.
  • Cán bộ quản lý tại Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn, Chi cục Thủy lợi, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Phần đáng tham khảo nhất là cơ chế tính toán suy giảm hệ số ổn định mái bờ khi gia tải ($P = 1{,}5\text{ đến }2\text{ T/m}^2$), các bản đồ/sơ đồ biến đổi lòng dẫn thực địa tại thị trấn Năm Căn, Tân Tiến và báo cáo nguyên nhân hư hỏng kè bê tông trong Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Tốc độ sạt lở bờ biển tại khu vực cửa sông Gành Hào diễn ra ở mức độ nào? Tại vị trí cửa sông Gành Hào (thị trấn Gành Hào), tốc độ sạt lở bờ trung bình lên tới $30\text{ m/năm}$ do chịu tác động liên tục của sóng biển, đặc biệt trong mùa gió Đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

2. Trọng tải tàu thuyền nào bắt đầu gây xói lở chân mái bờ kênh rạch tại Cà Mau? Tàu thuyền có tải trọng dưới 30 tấn sinh ra dòng chảy ngược nhỏ hơn vận tốc khởi động bùn cát ($V_{\text{kđ}} = 0{,}6 - 0{,}8\text{ m/s}$) nên không gây sạt chân bờ; tàu thuyền có tải trọng từ 30 tấn trở lên mới gây sạt lở chân bờ rõ rệt trên các kênh rạch hẹp như kênh Xáng Lộ Xe, sông Cái Tàu, sông Trẹm Trẹm.

3. Mức độ ổn định mái bờ thay đổi thế nào khi chất tải xây dựng $P = 1{,}5\text{ T/m}^2$ lên mép bờ? Khi chất tải $P = 1{,}5\text{ T/m}^2$ (tương đương lớp san lấp dày $1{,}0 - 1{,}5\text{ m}$), hệ số ổn định mái bờ tại các khu vực như Năm Căn, Tân Tiến bị suy giảm từ $7%$ đến $14%$ so với trạng thái tự nhiên; nếu tăng tải trọng lên $P = 2{,}0\text{ T/m}^2$, hệ số ổn định giảm từ $23%$ đến $25%$.

4. Huyện nào trên địa bàn tỉnh Cà Mau được xếp vào mức độ sạt lở bờ sông "đặc biệt nguy hiểm"? Huyện Đầm Dơi là địa bàn duy nhất được xếp vào mức độ sạt lở bờ sông đặc biệt nguy hiểm, với 12 khu vực sạt lở có tổng chiều dài trên $30\text{ km}$, tốc độ xâm thực ăn sâu vào bờ từ $2\text{ đến }5\text{ m/năm}$.

5. Vì sao một số công trình kè bê tông kiên cố tại Năm Căn và Đầm Dơi bị nứt gãy và sập đổ? Công trình kè bảo vệ bờ tại sông Cửa Lớn, sông Cái Nai, rạch Mương Điều và Bưu điện Đầm Dơi bị phá hủy chủ yếu do hiện tượng xói lở sạt chân kè (chân kè không cắm đủ sâu vào tầng đất tốt) kết hợp với lỗi thiết kế thiếu khe lún co giãn giữa các tấm bản bê tông.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Ngô Thị Vân đã tổng hợp và phân tích toàn diện hiện trạng sạt lở bờ sông, bờ biển tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 1995–2013 dựa trên các luận cứ khoa học địa lý và thủy lực công trình. Nghiên cứu chỉ rõ tác động cộng hưởng giữa nền địa chất mềm yếu, chế độ thủy triều phức tạp với hoạt động giao thông thủy cao tốc và tải trọng xây dựng ven bờ. Các giải pháp công trình kè mềm sinh học kết hợp quy hoạch hành lang an toàn do tác giả đề xuất mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác phòng chống thiên tai và phát triển bền vững tại vùng đất Mũi.