Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC THIET KE VÀ SỬ DUNG HỆ THONG BAI TAP NHAN THUC PHUC VU DAY HOC DIA Li LOP 11 TRUNG HOC PHO THONG 1. Co sở lí luận của việc thiết kế va sử dụng hệ thong bài tập nhận thức phục vụ dạy học Địa lí lớp 11 trung học phố thông 1. Quan niệm về đổi mới PPDH Địa lí [8] a.
Mục tiêu của dai mới Mục tiêu trực tiếp của đổi moi PPDH địa lí trước hết được thé hiện ở sự đổi mới phong cách day của thay và phong cách học của trò. Thành công của day học là làm sao để HS hứng thú với môn học, tích cực va chủ động tham gia vào giờ học. Tuy nhiên với phong cach day học lây thay làm trung tâm, thay truyền thụ kiến thức một chiều còn HS thụ động tiếp nhận kiến thức đã không đáp ứng mục tiêu của dạy va học. Chính vì vậy cần đổi mới phong cách day học mà cụ thé lấy HS làm trung tâm.
người thầy sẽ đảm nhận thiết kế các tình huống dé HS tự khai thác, tự chiếm lĩnh và tích cực tham gia vào các hoạt động, từ đó nâng cao động cơ học tập. Mục tiêu tôi cao của sự đổi mới PPDH là nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc day hoc dia lí ở các trưởng THPT. Điều này có nghĩa là sự thay đổi phong cách dạy học phải dẫn đến kết qua là HS hoàn thành tốt các mục tiêu học tập, hiểu và tiếp nhận kiến thức tốt hơn. Ngoài ra, các kĩ năng thực hành cũng như phát hiện van dé phát triển tốt hơn, những phẩm chat, các giá trị quan trong của học sinh được hình thành, củng cô và phát triển toan diện.
Quan niệm về đi mới Đổi mới PPDH Địa lí cần được hiểu theo nghĩa rộng là đổi mới tổ chức quá trình dạy học. Vẻ thực chất, đổi mới PPDH Địa lí chính là quá trình hiện đại hóa và tối ưu hóa việc tổ chức day học Địa lí theo quan điểm lấy HS làm trung tâm, bên 7 cạnh đó tăng cường vả phối hợp các phương pháp. kĩ thuật, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học hiện đại nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Nếu như sự đối mới chi tác động đến người thầy thì không thé cải biến được tình trạng dạy học địa lí còn kém hiệu quả như hiện nay.
Sự đổi mới PPDH Địa li chi thánh công khi lam cho HS tích cực, tự giác, chủ động trong học tập, phát huy tư duy sáng tạo. ki năng tự học vả niềm say mê. Vi vậy, đổi mới PPDH Địa lí vẻ thực chất là qua trình phát huy mạnh mẽ các hoạt động tích cực. tự giác, sáng tạo của học sinh theo hướng tăng cường các hoạt động độc lập vả các hoạt động tương tác của HS.
Những định hướng cơ bản - Tao cho HS một vị thé mới và những tiền dé, những điều kiện thuận lợi để hoạt động. Cụ thể là: + Người học phải trở thành chủ thẻ hành động, tích ewe, tự giác, chủ động và sảng tạo trong hoạt động dé kién tạo kiến thức. Người học cần phải thực sự hoạt động để đạt được không chỉ những tri thức và kĩ năng của bộ môn mà quan trọng hơn là tiếp thu được cách học, cách tự học. + Tạo ra và duy trì ở HS những động lực học tập mạnh mẽ.
Đó chính là động co, hứng thú, niềm lạc quan của HS trong quá trình học tập. Những nhân 16 này chính là những động lực thúc đấy mạnh mẽ HS tích cực, tự giác, chủ động va sáng tạo trong hoạt động độc lập hoặc hợp tác. + Phát triển ở HS khả năng tự đánh giá kết quả hoạt động của mình để trên cơ sở đó bản thân học sinh có thể điều chỉnh các hoạt động cud minh theo các mục tiêu đã định. - Xác lập, khẳng định vai trò, chức năng mới của người thay trong quá trình đạy học.
Cụ thể là: Người thay phải là người tô chức, chi đạo, điều khiển các hoạt động học tập tự giác, chủ động va sáng tạo của HS. Người thay sẽ không còn là là nguồn phát thông tin duy nhất, không phải là người hoạt động chủ yếu ở trên lớp như trước đây ma sẽ là người tổ chức và điều khiển quá trình học tập của HS. Với tư cách là người tổ chức, chi dao, điều khiển quá trinh học tập của HS, người thay cần phải đảm nhiệm và thực hiện tốt các chức nang sau đây : + Thiết ké tức là lập kế hoạch cho quá trình day học về cả mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện vả hình thức day học. + Uy thác tức là thông qua dat vấn đề nhận thức.
tao động cơ hứng thú người thay biến ý đỏ day của minh thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của trò vả chuyén giao cho trỏ những tỉnh huống để trò hoạt động va thích nghỉ + Điều khiển quá trình hoạt động học tập của học sinh trên cơ sở thực hiện một hệ thống mệnh lệnh, chỉ dẫn, trợ giúp, đánh giá (bao gồm cả sự động viên). + Thẻ chế hoá tức là xác nhận, định vị kiến thức mới trong hệ thong tri thức đã có, đồng nhất hoá kiến thức riêng lẻ của học sinh thành trí thức khoa học xã hội, hướng dẫn vận dụng và ghi nhớ. Quan niệm về bài tập nhận thức [8] a. BTNT là một bộ phận cơ bản của hệ thong bài tập Địa lí Trong day học Địa lí, bài tập là một công cụ dạy học quan trọng để phát huy tính tích cực.
độc lập nhận thức của HS. Vì vậy, rất cần thiết phải xây dựng một hệ thống các bài tập Địa lí bao gồm hai bộ phận chính là các BTNT và các bài tập thực hành. Hai bộ phận cơ bản này có những chức năng và mục đích sử dụng khác nhau. Nếu như các bài tập thực hảnh được sử dụng với mục đích chủ yếu là hình thành và phát triển các kĩ năng cho học sinh thi chức năng và mục tiêu hàng đầu của BTNT là tạo ra những cơ hội, tình huống day học Địa lí dé học sinh phải “động não.
phải tư duy, phải lam việc một cách chủ động, tích cực, độc lập. hợp tác với các ban cùng lớp nhăm tiếp thu kiến thức mới. củng cố kiến thức đã học, phát triển các thao tác tư duy và hình thành các nhận thức, tư tưởng thế giới khách quan. BTNT là hạt nhân của công tác độc lập của học sinh BTNT là một nhân tố cơ bản trong công tác độc lập của HS, được thực hiện trong quá trình dạy học.
được coi là hạt nhân của hệ thống đó. BTNT là đối tượng nhận thức của HS. Bắt kì BTNT nao cũng chửa đựng bền trong nỏ một tình hudéng xung đột, một mâu thuẫn giữa cái đưa ra và cái cần tìm mà việc nhận thức nó là nguồn gốc của tư duy, BTNT là phương tiện quan trọng giúp HS nắm bắt, tiếp cận tri thức một cách nhanh chóng. chủ động lôgic và có hiệu quả.
Trong day học Địa lí. các BTNT có một ý nghĩa quan trong, nó làm cho HS có ham muốn tìm tỏi phép giải băng cách phân tích các điều kiện và huy động những kiến thức vốn có của mình. BTNT là các bài toán nhận thức BTNT còn được xem là các bài toán nhận thức bởi vi xét vẻ cấu trúc một BINT thường bao gồm các thành tố cơ bản là cái cho, cái tim và chương trình giải (algorit), Nó cung cấp cho HS những kiến thức và con đường đẻ giành lấy kiến thức. Ngoài ra nó con mang niém vui cho người tim ra lời giải.
Vai trò của BTNT trong dạy học Địa li [8] a. Tăng cường hoạt động nhận thức tích cực, độc lập của HS Với những định hướng đổi mới giáo dục như hiện nay thì công tác dạy và học theo hướng tăng cường hoạt động nhận thức tích cực, độc lập cho HS là một yêu câu cấp thiết đã và đang đặt ra cho GV và nhà trường THPT. Thêm vào đó là thời đại công nghệ thông tin bùng nỗ mạnh mẽ là điều kiện hỗ trợ giúp cho quả trình đổi mới day và học thuận lợi. Tir đó bản thân GV và nhà trường THPT hoàn thiện quá trình dạy hoc, dao tạo cho được những con người vừa có kiến thức khoa học, “vira phát triển năng lực tư duy và hành động.
biết định hướng cuộc sống một cách đúng đắn và với niềm tin dựa trên cơ sở khoa học" (Okon). Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS. đặc trưng ở khát vọng học tập, cế gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức. Dạy học phát huy tinh tích cực nhận thức của HS có nghĩa là dạy học trong đó HS là người chủ động, tích cực tìm kiếm kiến thức, còn thay giáo lả người tỏ chức, hướng dẫn và giúp đỡ để HS tự mình khám phá kiến thức mới.
Thực tế dạy học hiện nay cho thấy GV cũng đã thiết kể một số bài tập hay những câu hỏi đưa ra dưới dang phiếu học tập, đây là một hình thức day học do GV tự thiết kế bao gồm những nhiệm vụ học tập được trình bay một cách logic, khoa học, cụ thể hóa từng hoạt động học tập với thời gian phù hợp và vừa sức với HS để các em có thé tự làm được, qua đó có thé tự mình chiếm lĩnh kiến thức mới. Khi 10 thực hiện các bai tập mà GV đưa ra, HS không chi năm ving tri thức cơ bản mà cần chú động tìm kiếm những thông tin qua các nguồn tài liệu tham khảo, các phương tiện kỹ thuật hiện đại, biết phân tích. khải quát hoá vả trình bảy vấn để theo một cau trúc logic chặt chẽ. Như vậy, sử dụng BTNT không chi giúp HS củng có những tri thức đã học,mả chủ yếu là tạo điều kiện giúp HS tích cực hoạt động va hình thành các kĩ năng độc lập học tập.
U-sim-xki, nhà giáo dục Nga nỗi tiếng đã khang định rang, HS năm vững kiến thức nhờ vao tỉnh độc lập của các em. Trong quá trình nắm ving kiến thức, nếu HS không bộc lộ tinh tích cực, độc lập nhận thức thì kiến thức ma các em thu nhận chỉ có tính hình thức va chắc chắn anh ta sẽ không sử dụng được kiến thức này trong cuộc sống. Bat cứ ai mong muốn được phát triển và giáo dục cũng phải phan dau bằng sự hoạt động của bán than, bang sức lực của chính bản thân.