Phát Triển Năng Lực Tự Học Truyện Ngắn Việt Nam Giai Đoạn 1930-1945 Cho Học Sinh Lớp 11

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phát triển năng lực tự học truyện ngắn việt nam giai đoạn 1930 1945 cho học sinh lớp 11 trung học, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2014

109
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Tự học và năng lực tự học

1.2. Khái niệm tự học , năng lực, năng lực tự học

1.3. Các hình thức tự học

1.4. Chu trình tự học

1.5. Các biểu hiện của năng lực tự học của học sinh

1.6. Những năng lực cần thiết của người tự học môn Ngữ văn

1.7. Vai trò và ý nghĩa của tự học

1.8. Truyện ngắn và năng lực tự học truyện ngắn

1.9. Thể loại truyện ngắn hiện đại và nét riêng của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

1.10. Năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

1.11. Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh THPT

1.12. Chương trình truyện ngắn Việt Nam trong SGK lớp 11 và thực trạng dạy - tự học truyện ngắn ở THPT

1.13. Chương trình truyện ngắn lớp 11

1.14. Thực trạng việc bồi dưỡng năng lực tự học truyện ngắn cho học sinh THPT

1.15. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Một số nguyên tắc tổ chức dạy học truyện ngắn theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS lớp 11 THPT

2.2. Bám sát mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông

2.3. Phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lí của HS THPT

2.4. Quán triệt tinh thần đổi mới PPDH môn học (Ngữ văn) và phần học (truyện ngắn Việt Nam 1930 - 1945)

2.5. Xuất phát từ thực tế rèn năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam cho học sinh THPT hiện nay

2.6. Hướng dẫn HS lớp 11 tự học trong quá trình dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS THPT

2.7. Hướng dẫn HS lập kế hoạch tự học

2.8. Hướng dẫn học sinh tự học trước giờ học

2.9. Hướng dẫn học sinh tự học trong giờ học

2.10. Hướng dẫn học sinh tự học sau giờ học

2.11. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tượng thực nghiệm

3.3. Nội dung thực nghiệm

3.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm

3.5. Cách tiến hành

3.6. Cách đánh giá

3.7. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.8. Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm

3.9. Kết quả thực nghiệm cụ thể

3.10. Tiểu kết Chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Năng Lực Tự Học Truyện Ngắn 1930 1945

Năng lực tự học là yếu tố then chốt trong bối cảnh tri thức bùng nổ. Tự học giúp thu hẹp khoảng cách giữa kiến thức vô hạn và hữu hạn của cá nhân. Đảng và Nhà nước đã đưa yêu cầu phát huy năng lực tự học vào Luật Giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khuyên “Trong cách học, phải lấy tự học làm cốt”. Mục đích của đổi mới giáo dục là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Năng lực tự học có sẵn trong mỗi người, cần được đánh thức. Dạy học Văn hiện nay vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức. Cần chuyển từ giảng văn sang đọc - hiểu văn bản, dạy học sinh cách tự đọc. Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 là một phần quan trọng của chương trình Ngữ văn 11. Tuy nhiên, thời gian học trên lớp có hạn, người dạy chưa chú trọng dạy kĩ năng tự học. Xuất phát từ yêu cầu dạy học theo hướng phát triển năng lực và thực trạng trên, đề tài “Phát triển năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 cho học sinh lớp 11” được chọn.

1.1. Khái niệm năng lực tự học và vai trò trong giáo dục

Theo từ điển Giáo dục học, tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành. Tác giả Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo”. Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình”. Năng lực tự học đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề. Nó cũng giúp học sinh hình thành thói quen học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.

1.2. Đặc điểm của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 1945

Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 là một giai đoạn văn học đặc biệt, phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội Việt Nam dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Các tác phẩm thường tập trung vào số phận của những người nông dân nghèo khổ, những trí thức tiểu tư sản bế tắc và những người phụ nữ bất hạnh. Văn học giai đoạn này mang đậm tính nhân văn, phê phán xã hội và thể hiện khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Các tác giả tiêu biểu như Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của thể loại truyện ngắn.

II. Thách Thức Trong Phát Triển Năng Lực Tự Học Lớp 11

Dù có nhiều nghiên cứu về tự học, việc áp dụng vào thực tế dạy truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 còn hạn chế. Phương pháp dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức một chiều. Học sinh chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng tự học. Giáo viên chưa có đủ thời gian và phương pháp để hướng dẫn tự học hiệu quả. Chương trình và sách giáo khoa chưa tạo điều kiện tối đa cho tự học. Đánh giá kết quả học tập chưa chú trọng đến năng lực tự học. Cần có giải pháp đồng bộ để khắc phục những hạn chế này.

2.1. Thực trạng dạy và học truyện ngắn 1930 1945 ở trường THPT

Thực tế cho thấy, việc dạy và học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 ở trường THPT còn nhiều bất cập. Giáo viên thường tập trung vào việc giảng giải nội dung, phân tích tác phẩm theo khuôn mẫu, ít chú trọng đến việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh thường thụ động tiếp thu kiến thức, ít có cơ hội tự mình khám phá, tìm hiểu tác phẩm. Điều này dẫn đến việc học sinh không nắm vững kiến thức, không phát triển được năng lực tự học và không yêu thích môn Văn.

2.2. Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của học sinh lớp 11

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của học sinh lớp 11. Thứ nhất, yếu tố tâm lý: học sinh có thể cảm thấy chán nản, mệt mỏi với việc học, thiếu động lực và mục tiêu học tập rõ ràng. Thứ hai, yếu tố phương pháp: học sinh chưa được trang bị kỹ năng tự học hiệu quả, chưa biết cách lập kế hoạch học tập, tìm kiếm thông tin, phân tích, tổng hợp kiến thức. Thứ ba, yếu tố môi trường: môi trường học tập chưa tạo điều kiện cho học sinh tự học, thiếu tài liệu tham khảo, thiếu sự hướng dẫn, hỗ trợ từ giáo viên và bạn bè.

III. Phương Pháp Phát Triển Năng Lực Tự Học Hiệu Quả Nhất

Để phát triển năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cho học sinh lớp 11, cần áp dụng phương pháp dạy học tích cực. Hướng dẫn học sinh lập kế hoạch tự học. Khuyến khích học sinh tự học trước, trong và sau giờ học. Sử dụng các phương tiện hỗ trợ tự học như sách tham khảo, internet. Tạo môi trường học tập thân thiện, khuyến khích học sinh trao đổi, thảo luận. Đánh giá kết quả học tập dựa trên năng lực tự học và khả năng vận dụng kiến thức.

3.1. Hướng dẫn học sinh lớp 11 lập kế hoạch tự học truyện ngắn

Việc lập kế hoạch tự học giúp học sinh lớp 11 chủ động hơn trong quá trình học tập. Kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu học tập, nội dung cần học, thời gian học tập và phương pháp học tập. Học sinh nên chia nhỏ nội dung học tập thành các phần nhỏ, dễ tiếp thu. Nên dành thời gian cho việc đọc tác phẩm, tìm hiểu về tác giả, bối cảnh lịch sử và phân tích các yếu tố nghệ thuật. Kế hoạch cần linh hoạt, có thể điều chỉnh theo tiến độ và khả năng của học sinh.

3.2. Sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ tự học truyện ngắn

Công nghệ thông tin (CNTT) cung cấp nhiều công cụ hỗ trợ tự học truyện ngắn hiệu quả. Học sinh có thể tìm kiếm thông tin trên internet, sử dụng các phần mềm đọc sách điện tử, xem các video bài giảng, tham gia các diễn đàn thảo luận văn học. CNTT giúp học sinh tiếp cận với nguồn tài liệu phong phú, đa dạng và học tập một cách sinh động, trực quan. Tuy nhiên, cần hướng dẫn học sinh sử dụng CNTT một cách có chọn lọc, tránh sa đà vào các nội dung không liên quan đến học tập.

IV. Ứng Dụng Thực Tế Phân Tích Truyện Ngắn Hiệu Quả

Áp dụng các phương pháp phát triển năng lực tự học vào việc phân tích truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Ví dụ, với truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao, học sinh có thể tự học bằng cách đọc kỹ tác phẩm, tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao, phân tích nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến, Thị Nở, tìm hiểu về giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, gợi mở, giúp học sinh tự học hiệu quả.

4.1. Hướng dẫn học sinh tự phân tích nhân vật trong truyện ngắn

Để tự phân tích nhân vật trong truyện ngắn, học sinh cần chú ý đến các yếu tố sau: lai lịch, ngoại hình, tính cách, hành động, lời nói, mối quan hệ với các nhân vật khác và sự phát triển của nhân vật trong tác phẩm. Học sinh nên tìm kiếm các chi tiết, dẫn chứng trong tác phẩm để chứng minh cho nhận định của mình. Nên so sánh, đối chiếu các nhân vật để thấy được sự khác biệt và điểm chung giữa họ.

4.2. Tự tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn

Để tự tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn, học sinh cần chú ý đến các yếu tố sau: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng và các biện pháp nghệ thuật. Học sinh nên đặt tác phẩm trong bối cảnh lịch sử, xã hội để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của tác phẩm. Nên so sánh, đối chiếu tác phẩm với các tác phẩm khác cùng thời để thấy được sự độc đáo và giá trị của tác phẩm.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Phát Triển Năng Lực Tự Học

Đánh giá hiệu quả của việc phát triển năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cho học sinh lớp 11 thông qua các bài kiểm tra, bài tập, dự án. Chú trọng đánh giá năng lực tự học, khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng giải quyết vấn đề. Sử dụng các hình thức đánh giá đa dạng như đánh giá cá nhân, đánh giá nhóm, tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng. Phản hồi kịp thời, giúp học sinh nhận ra điểm mạnh, điểm yếu và có kế hoạch cải thiện.

5.1. Tiêu chí đánh giá năng lực tự học của học sinh lớp 11

Các tiêu chí đánh giá năng lực tự học của học sinh lớp 11 bao gồm: khả năng lập kế hoạch học tập, khả năng tìm kiếm, xử lý thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp kiến thức, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế, khả năng tự đánh giá và điều chỉnh quá trình học tập. Các tiêu chí này cần được cụ thể hóa thành các chỉ số rõ ràng, dễ đo lường.

5.2. Phương pháp đánh giá năng lực tự học đa dạng và hiệu quả

Có nhiều phương pháp đánh giá năng lực tự học đa dạng và hiệu quả, bao gồm: bài kiểm tra trắc nghiệm, bài kiểm tra tự luận, bài tập thực hành, dự án nghiên cứu, thuyết trình, báo cáo, tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng. Nên kết hợp nhiều phương pháp đánh giá để có được cái nhìn toàn diện về năng lực tự học của học sinh.

VI. Kết Luận Hướng Tới Tương Lai Của Tự Học Ngữ Văn

Phát triển năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cho học sinh lớp 11 là một nhiệm vụ quan trọng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên, học sinh, nhà trường và gia đình. Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới phương pháp dạy học, tạo điều kiện tối đa cho học sinh tự học. Tự học là chìa khóa thành công trong xã hội hiện đại. Đầu tư vào tự học là đầu tư vào tương lai.

6.1. Vai trò của giáo viên trong việc hỗ trợ tự học

Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tự học của học sinh. Giáo viên cần là người hướng dẫn, gợi mở, tạo động lực và cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho học sinh. Giáo viên cần tạo môi trường học tập thân thiện, khuyến khích học sinh trao đổi, thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm học tập.

6.2. Định hướng phát triển năng lực tự học trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới phương pháp dạy học, tạo điều kiện tối đa cho học sinh tự học. Cần chú trọng đến việc phát triển kỹ năng tự học, khả năng tư duy phản biện, khả năng sáng tạo và khả năng hợp tác. Cần xây dựng một hệ thống đánh giá năng lực tự học khách quan, công bằng và hiệu quả.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tự học truyện ngắn việt nam giai đoạn 1930 1945 cho học sinh lớp 11 trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tự học và năng lực tự học 1. Khái niệm tự học , năng lực, năng lực tự học 1. Khái niệm tự học Tự học là một khái niệm được nhiều người quan tâm.

Hồ Chủ Tịch đã định hướng: “Tự học là một cách hành động”, tức là: Học tập một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch ra kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình [9]. Theo từ điển Giáo dục học - NXB từ điển Bách khoa 2001: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành…” Trong Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, tác giả Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [30]. Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.

[29] Còn theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học (self learning) là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm 14 z chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. [22] Trên thế giới khái niệm tự học cũng được tập trung nghiên cứu từ cuối thế kỉ XX. Tác giả Candy (1987) đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học. Ví dụ, ông liệt kê ra tự học, học tập độc lập, người học tự kiểm soát, hướng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự học và tự dạy… Trong quá trình nghiên cứu về tự học, một số tác giả đi đến thống nhất: có hai phương diện liên quan đến tự học đó là tính cách của người học và phương pháp học tập.

Đặc điểm tính cách hay "tính tự định hướng của người học" thuộc về bản chất của người học và là những đặc trưng cá nhân cho phép họ thể hiện "mong muốn chịu trách nhiệm với việc học". Đây là đặc điểm bên trong. Phương pháp học tập là một đặc điểm bên ngoài nói đến "một quá trình mà trong đó người học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm" (Brockett 11 & Hiemstra). Với Brockett & Hiemstra, hai phương diện này có mối quan hệ biện chứng và cùng nhau dẫn đến "tự học".

Từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: tự học là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học, cũng như những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày. Nó có thể được cá nhân người học tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp học. Khái niệm năng lực Năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau.

Nguyễn Văn Tuấn (ĐHSP kĩ thuật TP Hồ Chí Minh) trong chuyên đề “Tài liệu học tập về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp ” thì : Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Cấu trúc của năng lực bao gồm: Năng lực chuyên môn (Professional competency), năng lực phương pháp (Methodical competency), năng lực xã hội (Social competency), năng lực cá thể (Induvidual competency) và được thể hiện cụ thể như sau: PGS. Đỗ Ngọc Thống trong bài “Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn theo yêu cầu phát triển năng lực ” đã chỉ ra rằng: Tuy cách phát biểu về năng lực có thể khác nhau nhưng đều thống nhất trong cách hiểu về bản chất của khái niệm này: Năng lực là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, ý chí , kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực tự học Theo Nguyễn Kì, trong bất cứ con người Việt Nam nào trừ những người bị khuyết tật, tâm thần - đều tiềm ẩn một tiềm lực, một tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới, tự sáng tạo trong công việc hàng ngày gọi chung là NLTH sáng tạo [11].

“Năng lực tự học là tổng thể các năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp và năng lực xã hội của người học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trí tuệ và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí v. của người học) chiếm lĩnh tri thức kĩ năng”. Phân biệt năng lực tự học với kĩ năng tự học Kĩ năng tự học Tác giả Nguyễn Thị Bích Hà trong luận án “Biện pháp hoàn thiện kĩ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên Đại học Sư phạm theo quan điểm sư phạm tương tác” đã cho rằng: kĩ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả hoạt động tự học đúng như những hiểu biết về hoạt động tự học và về kĩ năng tự học mà người học đã được lĩnh hội trong hoạt động dạy học.[16 Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Kĩ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả một hay một nhóm hành động tự học bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép. Có thể nhận thấy, kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để người học thực hiện sự nghiên cứu khám phá, biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể, giúp người học biết ứng dụng sáng tạo để vận dụng kiến thức đã có vào giải quyết mâu thuẫn của quá trình nhận thức.

Kĩ năng tự học bao gồm cả vốn thông tin và tri thức sẵn có, phương pháp và các thao tác vận dụng chúng để người học tự mình giải quyết các nhiệm vụ học tập, chiếm lĩnh tri thức mới. Để tự học có kết quả, người học phải có một số kĩ năng tự học như kĩ năng thu 17 z thập thông tin, kĩ năng xử lí thông tin, kĩ năng vận dụng thông tin, kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá,. Mỗi kĩ năng trên đòi hỏi người học phải có sự hiểu biết và mức độ thành thạo nhất định trong thao tác. Cho nên trong quá trình tổ chức hoạt động học tập cho HS, người dạy cần phải coi trọng hình thành kĩ năng tự học, coi kĩ năng tự học vừa là phương tiện, điều kiện vừa là nội dung và mục đích của tự học, tự đào tạo.

Phân biệt năng lực với kĩ năng Khái niệm kĩ năng nhiều khi bị dùng lẫn với khái niệm năng lực. Vậy đâu là điểm phân biệt giữa kĩ năng với năng lực ? “Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”(Weinert, 2001). Trong tài liệu Chương trình giáo dục phổ thông và phát triển chương trình giáo dục phổ thông, tác giả Nguyễn Thúy Hồng cũng thống nhất cho rằng: Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, tổng hòa của các thành tố; kiến thức, kĩ năng, thái độ, các giá trị và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động của cá nhân được thể hiện thông qua giải quyết có trách nhiệm và hiệu quả các nhiệm vụ, vấn đề trong những bối cảnh và tình huống khác nhau. Như vậy năng lực là sức mạnh tổng hợp của kiến thức, kĩ năng và thái độ trong đó thái độ sẽ đưa ra những cam kết thực hiện và quyết định kết quả công việc, kĩ năng cần có để cam kết công việc sẽ được thực hiện, kiến thức sẽ quyết định đến quá trình thực hiện và kết quả công việc đạt được trong một tình huống cụ thể.

Những nghiên cứu trên cho thấy: năng lực và kĩ năng có mối liên hệ mật thiết với nhau, mang tính chất cấu thành và kĩ năng là một yếu tố cơ bản, quan trọng cấu thành nên năng lực. Muốn phát triển năng lực cần dựa trên cơ sở phát triển các thành phần như kiến thức, kĩ năng, thái độ…, huy động tổng hợp các thành phần trong những tình huống đa dạng. Để có thể tự học, người học phải nắm được những tri thức về hành động, phải vận dụng những tri thức 18 z đó để tiến hành các hành động nhằm thu được những kết quả phù hợp với mục đích. Nói cách khác, người học phải có kĩ năng tự học phù hợp với môn học.

Những kĩ năng tự học này, cùng với các thành phần khác sẽ góp phần hình thành và phát triển năng lực tự học ở người 1. Các hình thức tự học Xét về phạm vi diễn ra quá trình tự học, có thể chia hình thức tự học làm hai loại: - Tự học trong các cơ sở giáo dục: là hình thức tự học của người học diễn ra trong các cơ sở giáo dục có sự hướng dẫn, tổ chức của thầy theo kế hoạch giáo dục đã định sẵn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát Triển Năng Lực Tự Học Truyện Ngắn Việt Nam Giai Đoạn 1930-1945 Cho Học Sinh Lớp 11" tập trung vào việc nâng cao khả năng tự học của học sinh thông qua việc nghiên cứu các tác phẩm truyện ngắn nổi bật trong giai đoạn 1930-1945. Tài liệu không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về bối cảnh văn học Việt Nam thời kỳ này mà còn phát triển kỹ năng phân tích và cảm thụ văn học. Những lợi ích mà tài liệu mang lại bao gồm việc khuyến khích sự sáng tạo, tư duy phản biện và khả năng tự học, từ đó giúp học sinh trở thành những người đọc và viết tốt hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn học và phương pháp giảng dạy, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ truyện ngắn thanh tịnh trong dòng truyện ngắn trữ tình việt nam 1930 1945, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về các tác phẩm truyện ngắn khác. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vận dụng phương pháp webquest trong dạy học tích hợp phần hóa học hữu cơ lớp 11 nhằm phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh cũng cung cấp những phương pháp giảng dạy tích cực có thể áp dụng trong lớp học. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học địa lí lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về việc phát triển năng lực học sinh qua các hoạt động trải nghiệm.