CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tự học và năng lực tự học 1. Khái niệm tự học , năng lực, năng lực tự học 1. Khái niệm tự học Tự học là một khái niệm được nhiều người quan tâm.
Hồ Chủ Tịch đã định hướng: “Tự học là một cách hành động”, tức là: Học tập một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch ra kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình [9]. Theo từ điển Giáo dục học - NXB từ điển Bách khoa 2001: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành…” Trong Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, tác giả Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [30]. Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.
[29] Còn theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học (self learning) là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm 14 z chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. [22] Trên thế giới khái niệm tự học cũng được tập trung nghiên cứu từ cuối thế kỉ XX. Tác giả Candy (1987) đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học. Ví dụ, ông liệt kê ra tự học, học tập độc lập, người học tự kiểm soát, hướng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự học và tự dạy… Trong quá trình nghiên cứu về tự học, một số tác giả đi đến thống nhất: có hai phương diện liên quan đến tự học đó là tính cách của người học và phương pháp học tập.
Đặc điểm tính cách hay "tính tự định hướng của người học" thuộc về bản chất của người học và là những đặc trưng cá nhân cho phép họ thể hiện "mong muốn chịu trách nhiệm với việc học". Đây là đặc điểm bên trong. Phương pháp học tập là một đặc điểm bên ngoài nói đến "một quá trình mà trong đó người học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm" (Brockett 11 & Hiemstra). Với Brockett & Hiemstra, hai phương diện này có mối quan hệ biện chứng và cùng nhau dẫn đến "tự học".
Từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: tự học là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học, cũng như những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày. Nó có thể được cá nhân người học tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp học. Khái niệm năng lực Năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau.
Nguyễn Văn Tuấn (ĐHSP kĩ thuật TP Hồ Chí Minh) trong chuyên đề “Tài liệu học tập về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp ” thì : Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Cấu trúc của năng lực bao gồm: Năng lực chuyên môn (Professional competency), năng lực phương pháp (Methodical competency), năng lực xã hội (Social competency), năng lực cá thể (Induvidual competency) và được thể hiện cụ thể như sau: PGS. Đỗ Ngọc Thống trong bài “Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn theo yêu cầu phát triển năng lực ” đã chỉ ra rằng: Tuy cách phát biểu về năng lực có thể khác nhau nhưng đều thống nhất trong cách hiểu về bản chất của khái niệm này: Năng lực là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, ý chí , kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực tự học Theo Nguyễn Kì, trong bất cứ con người Việt Nam nào trừ những người bị khuyết tật, tâm thần - đều tiềm ẩn một tiềm lực, một tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới, tự sáng tạo trong công việc hàng ngày gọi chung là NLTH sáng tạo [11].
“Năng lực tự học là tổng thể các năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp và năng lực xã hội của người học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trí tuệ và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí v. của người học) chiếm lĩnh tri thức kĩ năng”. Phân biệt năng lực tự học với kĩ năng tự học Kĩ năng tự học Tác giả Nguyễn Thị Bích Hà trong luận án “Biện pháp hoàn thiện kĩ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên Đại học Sư phạm theo quan điểm sư phạm tương tác” đã cho rằng: kĩ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả hoạt động tự học đúng như những hiểu biết về hoạt động tự học và về kĩ năng tự học mà người học đã được lĩnh hội trong hoạt động dạy học.[16 Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Kĩ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả một hay một nhóm hành động tự học bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép. Có thể nhận thấy, kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để người học thực hiện sự nghiên cứu khám phá, biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể, giúp người học biết ứng dụng sáng tạo để vận dụng kiến thức đã có vào giải quyết mâu thuẫn của quá trình nhận thức.
Kĩ năng tự học bao gồm cả vốn thông tin và tri thức sẵn có, phương pháp và các thao tác vận dụng chúng để người học tự mình giải quyết các nhiệm vụ học tập, chiếm lĩnh tri thức mới. Để tự học có kết quả, người học phải có một số kĩ năng tự học như kĩ năng thu 17 z thập thông tin, kĩ năng xử lí thông tin, kĩ năng vận dụng thông tin, kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá,. Mỗi kĩ năng trên đòi hỏi người học phải có sự hiểu biết và mức độ thành thạo nhất định trong thao tác. Cho nên trong quá trình tổ chức hoạt động học tập cho HS, người dạy cần phải coi trọng hình thành kĩ năng tự học, coi kĩ năng tự học vừa là phương tiện, điều kiện vừa là nội dung và mục đích của tự học, tự đào tạo.
Phân biệt năng lực với kĩ năng Khái niệm kĩ năng nhiều khi bị dùng lẫn với khái niệm năng lực. Vậy đâu là điểm phân biệt giữa kĩ năng với năng lực ? “Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”(Weinert, 2001). Trong tài liệu Chương trình giáo dục phổ thông và phát triển chương trình giáo dục phổ thông, tác giả Nguyễn Thúy Hồng cũng thống nhất cho rằng: Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, tổng hòa của các thành tố; kiến thức, kĩ năng, thái độ, các giá trị và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động của cá nhân được thể hiện thông qua giải quyết có trách nhiệm và hiệu quả các nhiệm vụ, vấn đề trong những bối cảnh và tình huống khác nhau. Như vậy năng lực là sức mạnh tổng hợp của kiến thức, kĩ năng và thái độ trong đó thái độ sẽ đưa ra những cam kết thực hiện và quyết định kết quả công việc, kĩ năng cần có để cam kết công việc sẽ được thực hiện, kiến thức sẽ quyết định đến quá trình thực hiện và kết quả công việc đạt được trong một tình huống cụ thể.
Những nghiên cứu trên cho thấy: năng lực và kĩ năng có mối liên hệ mật thiết với nhau, mang tính chất cấu thành và kĩ năng là một yếu tố cơ bản, quan trọng cấu thành nên năng lực. Muốn phát triển năng lực cần dựa trên cơ sở phát triển các thành phần như kiến thức, kĩ năng, thái độ…, huy động tổng hợp các thành phần trong những tình huống đa dạng. Để có thể tự học, người học phải nắm được những tri thức về hành động, phải vận dụng những tri thức 18 z đó để tiến hành các hành động nhằm thu được những kết quả phù hợp với mục đích. Nói cách khác, người học phải có kĩ năng tự học phù hợp với môn học.
Những kĩ năng tự học này, cùng với các thành phần khác sẽ góp phần hình thành và phát triển năng lực tự học ở người 1. Các hình thức tự học Xét về phạm vi diễn ra quá trình tự học, có thể chia hình thức tự học làm hai loại: - Tự học trong các cơ sở giáo dục: là hình thức tự học của người học diễn ra trong các cơ sở giáo dục có sự hướng dẫn, tổ chức của thầy theo kế hoạch giáo dục đã định sẵn.