CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN TRONG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH LỚP 4 1. Khái quát về GDMT 1. Khái niệm - Khái niệm môi trường Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người.
Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước. Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định.
ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,. Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong 12 cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo. Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định. Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. - Khái niệm GDMT GDMT là thuật ngữ xuất hiện từ lâu trên thế giới.
Đến nay, thuật ngữ này trở nên khá phổ biến và được trình bày rất đa dạng. Tuy nhiên, có thể xét các khái niệm về GDMT theo hai loại sau: Thứ nhất, GDMT được định nghĩa là quá trình hình thành cho người học những hiểu biết, những tri thức về môi trường và các vấn đề liên quan. Tiêu biểu cho kiểu định nghĩa này phải kể đến định nghĩa về GDMT được nêu trong Luật GDMT của Mỹ (1970): “GDMT là quá trình giúp người học hiểu được mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn đề dân số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, kỹ thuật phát triển đô thị và nông thôn có ảnh hưởng đến môi trường con người như thế nào”. Thứ hai, GDMT được định nghĩa không chỉ là quá trình hình thành ở người học những hiểu biết về môi trường và những vấn đề liên quan mà nó 13 còn hình thành ở người học thái độ và hành động giải quyết các vấn đề môi trường, bảo vệ và cải thiện môi trường.
Tiêu biểu phải kể đến định nghĩa về GDMT được đề cập trong hội thảo “GDMT trong chương trình của trường học” của Hiệp hội Quốc tế vầ Bảo vệ tự nhiên và Tài nguyên thiên nhiên đất nước (IUCN) năm 1970: “GDMT là một quá trình hình thành những nhận thức, hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh con người. Hơn nữa, GDMT đòi hỏi hình thành ở người học khả năng quyết định, thái độ và những hành động liên quan đến chất lượng môi trường”[2]. Dưới sự quan tâm của Liên hợp quốc về vấn đề GDMT, các định nghĩa về GDMT của các nước đều thể hiện rõ hai mục tiêu như trong định nghĩa của IUCN. Định nghĩa đó như một tiền đề, cơ sở cho các hoạt động GDMT trong nhà trường cũng như trong xã hội.
Vị trí, vai trò của GDMT Nhà trường Tiểu học với mạng lưới phân bố rộng khắp đến từng làng bản ở mọi miền đất nước, có vai trò quan trọng trong công tác GDMT. Việc tổ chức công tác GDMT trong nhà trường tiểu học một cách có kế hoạch, có mục tiêu, nội dung và phương pháp phù hợp sẽ góp phần tạo nên một lực lượng xã hội hùng hậu tham gia bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc cũng như từng địa phương. Mỗi nhà trường xanh - sạch - đẹp sẽ trở thành một trung tâm văn hóa, giáo dục và bảo vệ môi trường trên địa bàn của mình và là hạt nhân tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường ở các cộng đồng. Công tác GDMT nói chung và GDMT ở trường Tiểu học nói riêng không chỉ có tác động trước mắt đến thế hệ hôm nay mà còn có tác động lâu dài đến nhiều thế hệ mai sau.
Hơn nữa, trường Tiểu học là một trung tâm văn hóa - giáo dục ở cộng đồng địa phương, có vai trò quan trọng trong công tác tuyên truyền, phổ biến vận động các tầng lớp dân cư thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về môi trường và bảo vệ môi trường. GDMT ở trường Tiểu học còn đảm bảo tính hệ thống, tính liên thông 14 giữa các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân của nội dung GDMT. Mục tiêu GDMT Nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục trong bảo vệ môi trường, Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế khác đã nỗ lực thúc đẩy tiến trình bảo vệ và GDMT trên thế giới thông qua hàng loạt hội nghị, hội thảo về môi trường và GDMT. “Suy nghĩ tầm địa cầu, hành động từ địa phương” (Think globally, Act locally) là nguyên tắc hành động được Liên hiệp quốc đưa ra.
Nguyên tắc này có ý nghĩa: + GDMT cần hình thành ở người học những nhận thức, hiểu biết về môi trường và các vấn đề liên quan. Những nhận thức và hiểu biết này không chỉ dừng lại ở quy mô địa phương hay quốc gia mà cần mang tầm địa cầu. + Bên cạnh đó, GDMT cần hình thành ở người học những hành động cụ thể để giải quyết các vấn đề về môi trường, bảo vệ và cải thiện môi trường xung quanh. Hội nghị GDMT được Liên hiệp quốc tổ chức tại Belgrade – Nam Tư năm 1975 đã cho ra đời hiến chương Belgrade.
Cho đến nay hiến chương này vẫn được đánh giá cao như một tiêu chuẩn quốc tế về GDMT. Sáu mục tiêu GDMT mà chỉ hiến chương Belgrade đưa ra là: Sự nhận biết (Awareness): Hình thành ở các cá nhân và các đoàn thể xã hội khả năng nhận biết, sự quan tâm về môi trường và các vấn đề liên quan đến môi trường. Tri thức (Knowledge): Hình thành những hiểu biết cơ bản về môi trường và các vấn đề liên quan đến môi trường cũng như trách nhiệm với môi trường. Thái độ (Attiude): Hình thành hệ thống giá trị, khả năng nhạy cảm với môi trường và mong muốn tham gia vào việc bảo vệ và cải thiện môi trường.
Năng lực đánh giá (Evaluation ability): Hình thành cho con người khả năng đo lường thực trạng môi trường, đánh giá chương trình giáo dục đứng trên các quan niệm sinh thái, chính trị, kinh tế. Từ mục tiêu chung này, các nước tự xây dựng mục tiêu cụ thể cho nước mình, sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và khả năng hành động của từng cấp học. Tất cả, dựa trên tiêu chuẩn quan trọng nhất là hành động tích cực của cá nhân và tập thể trong việc cải thiện chất lượng môi trường. Ở Việt Nam, mục tiêu GDMT cho HS tiểu học là: “GDMT trong nhà trường nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là: mỗi trẻ được trang bị một ý thức trách nhiệm với sự phát triển bền vững của trái đất, một khả năng biết đánh giá vẻ đẹp thiên nhiên và một giá trị nhân cách được khắc sâu bởi một nền tảng đạo lý về môi trường”.
Định hướng GDMT Để góp phần thực hiện mục tiêu GDMT, trường học cần xác định rõ những định hướng cơ bản về GDMT như sau: - Giáo dục về môi trường (Education about the environment) nhằm cung cấp cho người học những hiểu biết về cấu tạo và hoạt động của môi trường tự nhiên; những tác động của con người tới môi trường và hướng đến việc nghiên cứu môi trường và những khả năng tư duy để quản lý môi trường. - Giáo dục trong môi trường (Education in the environment) để tạo điều kiện học và hành trong thực tế môi trường cho HS, từ đó xây dựng những kĩ năng đánh giá qua việc tổng hợp và phân tích những dữ liệu về môi trường đồng thời nuôi dưỡng nhận thức và các quan niệm về môi trường và phát triển năng lực đánh giá thẩm mĩ. - Giáo dục vì môi trường (Education for the environment) xây dựng một nền giáo dục trong môi trường và về môi trường. Đặc biệt chú trọng việc phát triển các quan niệm và trách nhiệm vì môi trường, xây dựng động cơ và kĩ năng tham gia cải thiện môi trường, lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên môi trường.
Trong quá trình dạy học, để nâng cao chất lượng GDMT cần phải kết hợp hài hòa cả 3 cách tiếp cận trên. Bởi lẽ: giáo dục về môi trường, có thể tiến 16 tới các mục tiêu nhận biết và tri thức. Giáo dục trong môi trường, hình thành ở HS tình cảm, sự quan tâm đến môi trường và các kĩ năng bảo vệ môi trường, do nó coi trọng các kinh nghiệm trực tiếp của HS. Còn giáo dục vì môi trường, hình thành mục tiêu thái độ và sự tham gia vì môi trường.