Luận án bồi dưỡng cho học sinh năng lực phán đoán và lập luận có căn cứ trong dạy học hình học ở trường trung học phổ thông

Luận án nghiên cứu phương pháp bồi dưỡng năng lực phán đoán và lập luận cho học sinh trong dạy học hình học ở trường trung học phổ thông.

Trường đại học

Trường Trung Học Phổ Thông

Chuyên ngành

Toán Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2014

189
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

1.3. Mục đích nghiên cứu

1.4. Đối tƣợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.5. Giả thuyết khoa học

1.6. Câu hỏi nghiên cứu

1.7. Phƣơng pháp nghiên cứu

1.8. Những đóng góp của Luận án

1.9. Những vấn đề đƣa ra bảo vệ

1.10. Cấu trúc Luận án

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Một số khái niệm liên quan đến phán đoán

1.2. Năng lực phán đoán

1.3. Phân biệt giữa phán đoán – dự đoán – giả thuyết

1.4. Mối liên hệ giữa phán đoán và giải quyết vấn đề

1.5. Các khái niệm liên quan đến lập luận có căn cứ

1.6. Lập luận có căn cứ

1.7. Suy luận có lý và suy luận “nghe có lý”

1.8. Quy tắc suy luận

1.9. Suy luận trong hình học

1.10. Các biểu hiện cơ bản của năng lực phán đoán

1.11. Năng lực xem xét các đối tượng Toán học, các mối quan hệ Toán học trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng

1.12. Năng lực sử dụng các hoạt động trí tuệ để phán đoán giả thuyết hoặc lời giải cho bài toán

1.13. Năng lực liên tưởng các đối tượng, quan hệ đã biết với các đối tượng tương tự, quan hệ tương tự

1.14. Năng lực liên tưởng giữa các đối tượng để phát hiện và giải quyết các tình huống mới

1.15. Năng lực phát hiện quy luật hay tính chất Toán học nhờ việc sử dụng suy luận quy nạp

1.16. Năng lực sử dụng ngoại suy để lựa chọn lời giải thích tốt nhất cho vấn đề

1.17. Năng lực sử dụng biểu diễn Toán học để tìm tòi quy luật hay tính chất Toán học

1.18. Các biểu hiện cơ bản của lập luận có căn cứ

1.19. Năng lực phân tích cấu trúc logic của bài toán. Từ đó người học nhìn giả thiết và kết luận của bài toán theo khía cạnh khác

1.20. Năng lực thấy được đường lối giải, tìm được lời giải nhờ sơ đồ “phân tích đi xuống”

1.21. Năng lực xác định được căn cứ ở mỗi bước lập luận trong lời giải bài toán của học sinh

1.22. Năng lực kiểm tra, đánh giá lời giải các bài toán dựa vào các quy tắc suy luận

1.23. Năng lực tìm các phản ví dụ để bác bỏ mệnh đề

1.24. Phạm vi sử dụng phán đoán và lập luận có căn cứ trong dạy học hình học ở trƣờng trung học phổ thông

1.25. Dạy học khái niệm

1.26. Dạy học định lý

1.27. Dạy học giải bài tập. Thiết kế phán đoán

1.28. Các nguyên tắc của thiết kế phán đoán

1.29. Thiết kế của phán đoán

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

2. KHẢO SÁT NGHIÊN CỨU

2.1. Mục đích của khảo sát

2.2. Đối tƣợng tham gia khảo sát

2.3. Cách thức tổ chức khảo sát

2.4. Công cụ khảo sát

2.5. Thời gian khảo sát

2.6. Thu thập dữ liệu và các tiêu chí đánh giá

2.7. Thu thập dữ liệu

2.8. Các tiêu chí đánh giá cho các bước của quá trình phán đoán có căn cứ

2.9. Kết quả khảo sát

2.10. Kết quả trả lời bảng hỏi của giáo viên

2.11. Kết quả thảo luận và bài làm của học sinh qua các buổi khảo sát

2.12. Những khó khăn học sinh thƣờng gặp khi tiến hành hoạt động phán đoán và xây dựng giả thuyết

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

3. BIỆN PHÁP BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN VÀ LẬP LUẬN CÓ CĂN CỨ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC

3.1. Biện pháp 1: Tạo tình huống để học sinh phán đoán trong dạy học hình học nhờ suy luận quy nạp và tƣơng tự

3.2. Mục đích của biện pháp

3.3. Cơ sở và vai trò của biện pháp

3.4. Hướng dẫn thực hiện biện pháp

3.5. Một số lưu ý khi thực hiện biện pháp

3.6. Biện pháp 2: Tạo các tình huống để học sinh phán đoán trong dạy học hình học nhờ sử dụng khái quát hóa

3.7. Mục đích của biện pháp

3.8. Cơ sở và vai trò của biện pháp

3.9. Hướng dẫn thực hiện biện pháp

3.10. Một số lưu ý khi thực hiện biện pháp

3.11. Biện pháp 3: Tạo các tình huống để học sinh phán đoán trong dạy học hình học nhờ sử dụng suy luận ngoại suy

3.12. Mục đích của biện pháp

3.13. Cơ sở và vai trò của biện pháp

3.14. Hướng dẫn thực hiện biện pháp

3.15. Một số lưu ý khi thực hiện biện pháp

3.16. Biện pháp 4: Đề xuất các tình huống để ngƣời học phán đoán trong dạy học hình học nhờ sử dụng biểu diễn Toán học

3.17. Mục đích của biện pháp

3.18. Cơ sở và vai trò của biện pháp

3.19. Hướng dẫn thực hiện biện pháp

3.20. Một số lưu ý khi thực hiện biện pháp

3.21. Biện pháp 5: Luyện tập cho học sinh biết lựa chọn tiền đề đúng cho hoạt động giải quyết vấn đề

3.22. Mục đích của biện pháp

3.23. Cơ sở và vai trò của biện pháp

3.24. Hướng dẫn thực hiện biện pháp

3.25. Một số lưu ý khi thực hiện biện pháp

3.26. Biện pháp 6: Luyện tập cho học sinh có thói quen kiểm tra, đánh giá duyệt lại các bƣớc lập luận. So sánh cách giải quyết vấn đề khác nhau để cho cùng một kết quả

3.27. Mục đích của biện pháp

3.28. Cơ sở và vai trò của biện pháp

3.29. Hướng dẫn thực hiện biện pháp

3.30. Một số lưu ý khi thực hiện biện pháp

3.31. Biện pháp 7: Tạo cơ hội để học sinh lập luận có căn cứ cho học sinh nhờ xem xét giả thiết và kết luận của bài toán dƣới khía cạnh khác nhau

3.32. Mục đích của biện pháp

3.33. Cơ sở và vai trò của biện pháp

3.34. Hướng dẫn thực hiện biện pháp

3.35. Một số lưu ý khi thực hiện biện pháp

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3

4. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM

4.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung thực nghiệm

4.2. Nội dung thực nghiệm

4.3. Thời gian, quy trình và phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm

4.4. Thời gian thực nghiệm sư phạm

4.5. Quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm

4.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

4.7. Tiến trình thực nghiệm sƣ phạm

4.8. Thực nghiệm sư phạm vòng 1 (Năm học 2013 - 2014)

4.9. Thực nghiệm sư phạm vòng 2 (Năm học 2014 - 2015)

4.10. Phân tích kết quả kiểm chứng qua việc điều tra giáo viên và học sinh về quá trình thực nghiệm sƣ phạm

KẾT LUẬN CHƢƠNG 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1.1. DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1.1. Bảng 2. Thời gian khảo sát

1.1.2. Các tiêu chí phân tích tương ứng cho mỗi bước PĐ có căn cứ nhờ quy nạp

1.1.3. Các tiêu chí phân tích tương ứng cho mỗi bước PĐ có căn cứ nhờ SL tương tự

1.1.4. Các tiêu chí phân tích tương ứng cho mỗi bước PĐ có căn cứ theo con đường khái quát hóa

1.1.5. Các tiêu chí phân tích tương ứng cho mỗi bước xây dựng giả thuyết của một bài toán

1.1.6. HS của nhóm 1 trình bày PĐ cho phiếu học tập số 1

1.1.7. HS của nhóm 2 trình bày PĐ cho phiếu học tập số 1

1.1.8. HS của nhóm 3 trình bày PĐ cho phiếu học tập số 1

1.1.9. HS một số nhóm trình bày PĐ cho công thức ở trường hợp khái quát

1.1.10. Bài làm của một số nhóm dự đoán và kiểm chứng dự đoán cho công thức tính AH

1.1.11. Bài làm của một số nhóm PĐ công thức khái quát và kiểm chứng PĐ bằng CM Toán học

1.1.12. Bài làm của một số nhóm về xây dựng giả thuyết và kiểm chứng giả thuyết

1.1.13. Phân bố điểm kiểm tra chất lượng của nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng trước thực nghiệm vòng 1

1.1.14. Bảng xử lý số liệu thống kê của hai nhóm trước khi thực nghiệm vòng 1

1.1.15. Kết quả số liệu thống kê của hai nhóm trước khi thực nghiệm vòng 1

1.1.16. Phân bố điểm của lớp thực nghiệm và đối chứng sau thực nghiệm vòng 1

1.1.17. Phân bố tần số luỹ tích hội tụ lùi của hai nhóm sau thực nghiệm vòng 1

1.1.18. Bảng xử lý số liệu thống kế của hai nhóm sau thực nghiệm vòng 1

1.1.19. Kết quả số liệu thống kê của hai nhóm sau thực nghiệm vòng 1

1.1.20. Phân bố điểm kiểm tra chất lượng của hai nhóm trước thực nghiệm vòng 2

1.1.21. Bảng xử lý số liệu thống kê của hai nhóm trước thực nghiệm vòng 2

1.1.22. Kết quả số liệu thống kê của hai nhóm trước thực nghiệm vòng 2

1.1.23. Phân bố điểm của hai nhóm sau thực nghiệm vòng 2

1.1.24. Phân bố tần số luỹ tích hội tụ lùi của hai nhóm sau thực nghiệm vòng 2

1.1.25. Bảng xử lý số liệu của hai nhóm sau thực nghiệm vòng 2

1.1.26. Kết quả số liệu thống kê của hai nhóm sau thực nghiệm vòng 2

1.2. DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

1.2.1. Sơ đồ 1. Sơ đồ minh họa cho việc thêm vào tiền đề còn thiếu

1.2.2. Quá trình SL ngoại suy

1.2.3. Sơ đồ “phân tích đi xuống”

1.2.4. Mô tả việc tìm tòi lời giải của bài toán theo “phân tích đi xuống”

1.2.5. Sơ đồ minh họa mối quan hệ giữa PĐ và phản ví dụ

1.2.6. Sơ đồ quy trình khái quát hóa

1.2.7. Đa giác đồ của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trước thực nghiệm vòng 1

1.2.8. Đồ thị biểu diễn đường tần suất luỹ tích hội tụ lùi của hai nhóm sau thực nghiệm vòng 1

1.2.9. Đa giác đồ biểu thị điểm kiểm tra chất lượng của hai nhóm trước thực nghiệm sư phạm vòng 2

1.2.10. Đồ thị biểu diễn đường tần suất luỹ tích hội tụ lùi của hai nhóm sau thực nghiệm vòng 2

Tóm tắt

I. Giới thiệu về năng lực phán đoán và lập luận trong dạy học hình học

Năng lực phán đoán và lập luận là hai yếu tố quan trọng trong quá trình học tập của học sinh, đặc biệt trong môn hình học. Năng lực phán đoán giúp học sinh đưa ra các giả thuyết và dự đoán về các mối quan hệ hình học, trong khi lập luận có căn cứ cho phép học sinh xây dựng và bảo vệ các quan điểm của mình. Việc phát triển hai năng lực này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về các khái niệm hình học mà còn rèn luyện tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Theo G. Polya, phán đoán là một phần thiết yếu trong việc giải quyết bài toán, và việc học sinh tham gia vào các hoạt động phán đoán sẽ giúp họ phát triển tư duy logic và khả năng phân tích. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh dạy học hiện đại, nơi mà việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn ngày càng được coi trọng.

1.1. Khái niệm về năng lực phán đoán

Năng lực phán đoán được định nghĩa là khả năng đưa ra các giả thuyết và dự đoán dựa trên các thông tin có sẵn. Trong dạy học hình học, học sinh cần phải phát triển khả năng này để có thể nhận diện và phân tích các mối quan hệ giữa các đối tượng hình học. Việc rèn luyện năng lực phán đoán không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các định lý và khái niệm mà còn tạo điều kiện cho việc phát triển tư duy sáng tạo. Học sinh có thể sử dụng các phương pháp như suy luận quy nạp và tương tự để đưa ra các phán đoán, từ đó kiểm chứng và điều chỉnh các giả thuyết của mình. Điều này không chỉ giúp học sinh nâng cao năng lực học tập mà còn phát triển kỹ năng sống cần thiết trong tương lai.

1.2. Lập luận có căn cứ trong dạy học hình học

Lập luận có căn cứ là quá trình xây dựng và bảo vệ các quan điểm dựa trên các lý lẽ và bằng chứng. Trong dạy học hình học, việc phát triển năng lực lập luận có căn cứ giúp học sinh không chỉ hiểu rõ các định lý mà còn biết cách áp dụng chúng vào các tình huống thực tế. Học sinh cần được hướng dẫn để phân tích cấu trúc logic của bài toán, từ đó xác định các căn cứ và quy tắc suy luận cần thiết. Việc này không chỉ giúp học sinh nâng cao khả năng giải quyết vấn đề mà còn rèn luyện tư duy phản biện. Học sinh có thể học cách kiểm tra và đánh giá các lời giải của mình, từ đó phát hiện ra các phản ví dụ để bác bỏ các mệnh đề không chính xác. Điều này tạo ra một môi trường học tập tích cực, nơi mà học sinh được khuyến khích tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động.

II. Phương pháp dạy học nhằm nâng cao năng lực phán đoán và lập luận

Để nâng cao năng lực phán đoánlập luận có căn cứ cho học sinh trong dạy học hình học, giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Các phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động mà còn khuyến khích họ tham gia vào quá trình học tập. Một số phương pháp hiệu quả bao gồm: tạo ra các tình huống học tập thực tế, khuyến khích học sinh thảo luận và làm việc nhóm, và sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập như phần mềm hình học động. Việc áp dụng các phương pháp này sẽ giúp học sinh phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề, từ đó nâng cao năng lực học tập của họ. Hơn nữa, giáo viên cần tạo ra một môi trường học tập thân thiện, nơi mà học sinh cảm thấy thoải mái khi đưa ra ý kiến và phán đoán của mình.

2.1. Tạo tình huống học tập thực tế

Tạo ra các tình huống học tập thực tế là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để nâng cao năng lực phán đoán và lập luận của học sinh. Giáo viên có thể thiết kế các bài tập hình học liên quan đến các tình huống trong cuộc sống hàng ngày, từ đó khuyến khích học sinh đưa ra các phán đoán và giải quyết vấn đề. Việc này không chỉ giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tiễn mà còn phát triển khả năng tư duy sáng tạo. Học sinh sẽ học cách phân tích các tình huống, đưa ra các giả thuyết và kiểm chứng chúng thông qua các hoạt động thực tế. Điều này tạo ra một môi trường học tập năng động và thú vị, giúp học sinh cảm thấy hứng thú hơn với môn học.

2.2. Khuyến khích thảo luận và làm việc nhóm

Khuyến khích học sinh thảo luận và làm việc nhóm là một phương pháp dạy học quan trọng trong việc phát triển năng lực phán đoán và lập luận. Khi làm việc nhóm, học sinh có cơ hội chia sẻ ý kiến, lắng nghe quan điểm của người khác và cùng nhau tìm ra giải pháp cho các vấn đề hình học. Việc này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp mà còn rèn luyện khả năng phân tích và đánh giá các lập luận của nhau. Hơn nữa, thông qua các cuộc thảo luận, học sinh có thể nhận ra các sai sót trong phán đoán của mình và học hỏi từ những người khác. Điều này tạo ra một môi trường học tập tích cực, nơi mà học sinh được khuyến khích tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động.

III. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Việc nâng cao năng lực phán đoánlập luận có căn cứ cho học sinh trong dạy học hình học không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về môn học mà còn phát triển các kỹ năng tư duy cần thiết cho cuộc sống. Các phương pháp dạy học tích cực như tạo tình huống học tập thực tế và khuyến khích thảo luận nhóm đã chứng minh được hiệu quả trong việc phát triển năng lực này. Học sinh không chỉ học cách áp dụng kiến thức mà còn rèn luyện khả năng phân tích, đánh giá và giải quyết vấn đề. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho học sinh đối mặt với các thách thức trong học tập và cuộc sống sau này. Việc giáo viên chú trọng đến việc phát triển năng lực phán đoán và lập luận sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và tạo ra những thế hệ học sinh tự tin, sáng tạo và có khả năng tư duy độc lập.

3.1. Tầm quan trọng của việc phát triển năng lực phán đoán và lập luận

Phát triển năng lực phán đoán và lập luận có căn cứ là một yếu tố quan trọng trong giáo dục hiện đại. Nó không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm hình học mà còn rèn luyện tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Học sinh sẽ học cách đưa ra các giả thuyết, kiểm chứng chúng và điều chỉnh quan điểm của mình dựa trên các bằng chứng. Điều này không chỉ có lợi cho việc học tập mà còn giúp học sinh phát triển các kỹ năng sống cần thiết trong tương lai.

3.2. Ứng dụng trong thực tiễn giáo dục

Các phương pháp dạy học nhằm nâng cao năng lực phán đoán và lập luận có thể được áp dụng rộng rãi trong các lớp học hình học. Giáo viên có thể thiết kế các bài học thú vị, tạo ra các tình huống học tập thực tế và khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động thảo luận nhóm. Việc này không chỉ giúp học sinh phát triển năng lực học tập mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực, nơi mà học sinh cảm thấy thoải mái khi đưa ra ý kiến và phán đoán của mình. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và tạo ra những thế hệ học sinh tự tin, sáng tạo và có khả năng tư duy độc lập.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm bốn chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận. Chƣơng 2: Khảo sát nghiên cứu. Chƣơng 3: Biện pháp bồi dƣỡng cho HS NLPĐ và LLCCC trong DH HH ở trƣờng THPT. Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm.

10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm liên quan đến phán đoán 1. Phán đoán Theo nghĩa thông thƣờng, nói đến PĐ là nói đến phỏng đoán, ƣớc đoán, dự đoán. Vì vậy, tƣ duy trong trƣờng hợp này là tƣ duy đang trong quá trình vận động, chƣa đƣợc định hình.

Do đó, nó chƣa đƣợc xác định cả về đối tƣợng ở phẩm chất nhất định cũng chƣa phản ánh một cách chắc chắn là chân thực hay giả dối, tức là chƣa xác định về mặt giá trị logic của nó. Một vài khái niệm về PĐ đƣợc phát biểu nhƣ sau: PĐ là hình thức logic của tƣ duy, trong đó các khái niệm đƣợc liên kết với nhau để khẳng định hay phủ định một dấu hiệu nào đó của đối tƣợng. PĐ vừa có chức năng nhận thức, nhận định lại vừa có chức năng dự báo [7, tr. PĐ là một hình thức của tƣ duy trong đó khẳng định một dấu hiệu nào đó thuộc hay không thuộc về một đối tƣợng [33, tr.

Trong tƣ duy, PĐ đƣợc hình thành bởi hai phƣơng thức chủ yếu là trực tiếp và gián tiếp. Theo phƣơng thức trực tiếp thì PĐ diễn đạt kết quả nghiên cứu của quá trình tri giác một đối tƣợng. Còn theo phƣơng thức gián tiếp thì PĐ đƣợc hình thành thông qua SL. Chúng tôi đồng ý với quan điểm rằng PĐ là hình thức của tƣ duy để khẳng định hay phủ định một thuộc tính nào đó thuộc về đối tƣợng tƣ duy và PĐ có thể đúng hoặc sai vì thế để khẳng định PĐ là đúng thì chúng ta phải kiểm chứng PĐ bằng các quy tắc SL.

Trong các tài liệu liên quan đến PĐ, các tác giả đã có sử dụng một số thuật ngữ liên quan với PĐ nhƣ dự đoán, phỏng đoán, tiền đề, giả thuyết,.các thuật ngữ này về cơ bản có liên quan đến PĐ. Dự đoán Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê: “Dự đoán có nghĩa là khả năng đoán trƣớc tình hình, sự việc nào có thể xảy ra” [13, tr. Theo các tác giả Mason, Burton và Stacey cho rằng: “Dự đoán là môt ý kiến, một nhận định có lý nhƣng tính đúng đắn của nó thì vẫn chƣa đƣợc kiểm chứng; hoặc đi đến một kết luận, một quan điểm. từ những chứng cứ không đầy đủ” [52].

Polya đã đƣa ra nhiều ví dụ mô tả quá trình dự đoán bao gồm khái quát hóa, đặc biệt hóa và tƣơng tự. Khái quát hóa chuyển từ việc nghiên cứu tập hợp đối tƣợng đã cho đến việc 11 nghiên cứu tập hợp lớn hơn, bao gồm tập hợp ban đầu. Đặc biệt hóa là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp đối tƣợng đã cho sang việc nghiên cứu tập hợp nhỏ hơn chứa trong tập hợp đã cho. Tƣơng tự là một kiểu giống nhau nào đó, nhƣng ở mức độ xác định hơn và ở mức độ đƣợc phản ánh bằng khái niệm [15, tr.

Nói về dự đoán, tác giả Đào Văn Trung có viết: "Dự đoán là một phƣơng pháp tƣ tƣởng đƣợc ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học. Đó là căn cứ vào các nguyên lý và sự thật đã biết để nêu lên những hiện tƣợng và quy luật chƣa biết hay dự đoán là sự nhảy vọt từ giả thiết sang kết luận” [32, tr. Khái niệm Có nhiều định nghĩa khác nhau về giả thuyết của các tác giả sau đây [54]: Theo Kerlinger (năm 1956) cho rằng “giả thuyết là một mệnh đề phỏng đoán về mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến số”; Theo Macleod Clark và Hockey L (1981) thì giả thuyết là phát biểu hoặc sự giải thích đƣợc đề xuất bởi sự quan sát hoặc tri thức nhƣng chƣa đƣợc CM, chƣa đƣợc kiểm chứng”; Giả thuyết đƣợc định nghĩa nhƣ là lời giải thử nghiệm của vấn đề nghiên cứu, một kết quả nghiên cứu có thể thực hiện đƣợc hoặc một phỏng đoán về kết quả nghiên cứu. Theo tác giả Vũ Cao Đàm (1999) [5, tr.53] thì giả thuyết khoa học còn gọi là giả thuyết nghiên cứu, là một nhận định sơ bộ, một kết luận giả định về bản chất sự vật, do ngƣời nghiên cứu đƣa ra để CM hoặc bác bỏ.

Nhƣ vậy, xét trong cấu trúc logic của nghiên cứu thì giả thuyết nằm ở vị trí luận đề. Để CM hoặc bác bỏ giả thuyết cần phải có các luận cứ và luận chứng. Nhƣ thế, về mặt logic, giả thuyết đƣợc trình bày dƣới dạng một PĐ. Giả thuyết là một ý tƣởng đƣợc đề xuất nhƣ là một sự giải thích có lý cho một tình trạng hoặc tình huống cụ thể nhƣng chƣa đƣợc CM là đúng.

Thao tác để đưa ra giả thuyết a. Bản chất logic của giả thuyết Xét về bản chất logic học, giả thuyết là một PĐ. Nhƣ vậy, giả thuyết phải đƣợc viết dƣới dạng một PĐ nghĩa là giả thuyết có cấu trúc logic chính là cấu trúc một PĐ. Thao tác logic để để đưa ra giả thuyết Để đƣa một giả thuyết, ngƣời nghiên cứu cần đƣợc quan sát, phải phát hiện đƣợc vấn đề.

Đặt giả thuyết chính là đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đƣợc đặt ra. Xét về bản chất logic, quá trình liên kết, chắp nối các sự kiện, các số liệu thu thập đƣợc từ trong quan sát, thực nghiệm để đƣa ra một giả thuyết chính là quá trình SL: SL diễn dịch, SL quy nạp, loại suy. Năng lực phán đoán 1. Năng lực NL là một thuộc tính quan trọng của nhân cách con ngƣời.

Từ lâu khái niệm NL trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, tuy hiện vẫn còn một số vấn đề chƣa đƣợc thống nhất cao nhƣng bản chất của khái niệm này đã đƣợc các nhà tâm lý học và giáo dục học làm sáng tỏ. Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: “NL là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao” [13, tr. Còn theo tâm lý học: “NL là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” [28, tr. Về đặc điểm của NL, tác giả John Erpenbeck cho rằng: “NL đƣợc tri thức làm cơ sở, đƣợc sử dụng nhƣ khả năng, đƣợc quy định bởi giá trị, đƣợc tăng cƣờng qua kinh nghiệm và đƣợc thực hiện hóa qua chủ định” [3, tr.

Điểm qua một số quan niệm trên về NL chúng ta có thể nhận định rằng: “NL chỉ nảy sinh và quan sát đƣợc trong hoạt động giải quyết những yêu cầu mới mẻ do đó nó gắn liền với tính sáng tạo tuy có khác nhau về mức độ” [1, tr. Chúng tôi đồng ý với quan điểm về NL: “NL là khả năng thực hiện một hoạt động nhất định nào đó của con ngƣời và NL đƣợc hình thành, phát triển, có thể quan sát đƣợc trong hoạt động giải quyết những yêu cầu đặt ra”. Năng lực phán đoán Xuất phát từ cách hiểu về các khái niệm về NL, PĐ, dự đoán, giả thuyết, chúng tôi hình dung NLPĐ trong hoạt động học Toán của HS nhƣ sau: “NLPĐ là NL hoạt động của chủ thể tìm ra giả thuyết mới hoặc cách giải cho bài toán dựa trên vốn kiến thức, kinh nghiệm sẵn có”. 13 tƣơng Mức độ NLPĐ liên quan chặt chẽ với các phẩm chất của NL tƣ duy sáng tạo, NL tƣ duy lôgic, NL tƣ duy phê phán, NL tƣ duy biện chứng, NL GQVĐ,.

Trong quá trình DH, GV nên quan tâm rèn luyện cho HS có thói quen quan sát, tìm tòi và dự đoán. Tuy việc dự đoán, tìm tòi đúng là có tốn thời gian, nhƣng “sẽ đƣợc đền bù nhanh chóng khi tƣ duy độc lập của HS đã đƣợc phát triển” 1. Phân biệt giữa phán đoán – dự đoán – giả thuyết PĐ với giả thuyết Giống nhau: Cả hai đều là phát biểu dựa trên quan sát và dƣờng nhƣ đây là phát biểu đúng nhƣng không đƣợc CM và kiểm chứng.Bowden đã giải thích trong cuối sách “Phƣơng pháp Toán học trong khoa học” [46], hai ông cho rằng PĐ và giả thuyết khác nhau ở mức độ tin cậy mà giải thích dựa trên nó. Giả thuyết có thể đƣợc kiểm chứng và lời giải thích dựa trên cơ sở chấp nhận đƣợc.

Còn PĐ đƣợc đề xuất dựa trên cơ sở “không xác định” và đôi khi nó chƣa đƣợc kiểm tra đầy đủ. PĐ không nhƣ giả thuyết, nó luôn đƣợc sử dụng trong Toán học, còn giả thuyết đƣợc sử dụng cho mọi lĩnh vực. Nếu PĐ đƣợc CM là đúng thì nó là định lý. Tuy nhiên ranh giới giữa hai thuật ngữ này vẫn còn chƣa rõ ràng, đôi khi chúng đƣợc sử dụng nhƣ những từ đồng nghĩa.

Ví dụ trong Toán học có PĐ đƣợc gọi là “giả thuyết Riemann” mà chính xác nên gọi là “PĐ Riemann”. PĐ với dự đoán PĐ có cấu trúc logic, dựa trên căn cứ nào đó để khẳng định hay phủ định một dấu hiệu nào đó của đối tƣợng. Còn dự đoán không có cấu trúc logic, dự đoán chỉ là phỏng đoán, không có căn cứ vì thế mức độ tin cậy của dự đoán thấp hơn PĐ. Mối liên hệ giữa phán đoán và giải quyết vấn đề Canadas cùng các cộng sự của ông đã chỉ rõ: GQVĐ và PĐ là hai hoạt động Toán học gắn bó với nhau vô cùng chặt chẽ [39].

Tuy nhiên, không phải loại vấn đề nào cũng là mảnh đất màu mỡ cho PĐ nảy sinh. Theo phân loại của Yevdokimov [39] thì có vấn đề đóng và vấn đề mở. Một vấn đề đƣợc gọi là đóng nếu đã cho sẵn hai tập hợp gồm các tính chất rồi yêu cầu CM một tập hợp này là hệ quả của tập hợp kia. Vấn đề đóng theo cách xác định này tƣơng tự với vấn đề CM trong phân loại của Polya.

Tác giả Yevdokimov đã mô tả ba đặc điểm để nhận dạng một vấn đề mở nhƣ sau: (1) vấn đề cho biết các tính chất ban đầu và yêu cầu tìm hệ quả của chúng; (2) vấn đề cho biết các tính chất hệ quả và yêu cầu tìm các tính chất ban đầu; (3) vấn đề không cho sẵn tính chất nào cả và yêu cầu tìm các tính chất có liên quan. Loại vấn đề mở này tƣơng tự với loại vấn đề tìm tòi theo cách phân loại của Polya. Nhìn chung, so với vấn đề đóng hay vấn đề CM thì vấn đề mở hay vấn đề tìm tòi là không quen thuộc đối với HS Việt Nam [4].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về nâng cao năng lực phán đoán và lập luận trong dạy học hình học cho học sinh trung học phổ thông" tập trung vào việc cải thiện khả năng tư duy và lập luận của học sinh thông qua phương pháp dạy học hình học. Luận án này không chỉ đề xuất các phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển năng lực phán đoán trong quá trình học tập. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các phương pháp này, giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của giáo dục toán học, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Phát triển năng lực vận dụng toán học cho học sinh lớp 9 qua dạy học hệ thức lượng trong tam giác vuông", nơi đề cập đến việc áp dụng kiến thức toán học vào thực tiễn. Bên cạnh đó, bài viết "Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 10 thông qua dạy học hệ thức lượng trong tam giác" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Cuối cùng, bài viết "Nâng cao năng lực tư duy và lập luận toán học cho học sinh giỏi lớp 9 qua dạy học giải phương trình bất phương trình" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp dạy học nhằm phát triển tư duy cho học sinh. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về giáo dục toán học và các phương pháp giảng dạy hiệu quả.