CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Năng lực Năng lực là một vấn đề trừu tượng của Tâm lý học. Khái niệm này cho đến ngày nay vẫn có nhiều cách tiếp cận và cách diễn đạt khác nhau, chẳng hạn: - Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.
Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Côvaliov thì quan niệm: Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được kết quả cao. Năng lực theo Côvaliov được hiểu như là một tổ hợp của các thuộc tính cá nhân cần thiết cho việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định. - Năng lực theo B.Chieplov: “Là những đặc điểm tâm lí cá nhân liên quan đến tính kết quả trong thực hiện hoạt động này hay hoạt động khác”.
Ở đây, ông xem xét năng lực ở góc độ khác biệt tâm lí cá nhân giữa người này với người khác biệt tâm lí cá nhân giữa người này với người khác thông qua kết quả hoạt động.Lâytex khái quát: “Năng lực là những thuộc tính tâm lí nào của cá nhân mà là điều kiện để hoàn thành tốt đẹp những loại hoạt động nhất định”. - Theo cuốn “Hướng dẫn tổ chức giáo dục nghề nghiệp “, năng lực là “một tập hợp thống nhất các kiến thức, kĩ năng và thái độ cho phép thực hiện thành công một hoạt động hay một tập hợp hoạt động như một nhiệm vụ hay một công việc”[1;tr22]. - Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Năng lực chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lí của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả một hoạt động nào đó” [3; tr 145]. 10 - Nguyễn Quang Uẩn và các nhà tâm lí học sư phạm cho rằng: “Năng lực là một tổ hợp những đặc điểm tâm lí và sinh lí cá nhân, đang là điều kiện chủ quan để cá nhân đó thực hiện có kết quả một hoạt động” [34; tr 213].
- Còn theo tác giả Đặng Thành Hưng thì: “Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công các hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể “tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lí và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động” [14; tr 25]… Năng lực là khả năng linh hoạt khi giải quyết vấn đề cho dù có nảy sinh những yêu cầu mới hay phát sinh những vấn đề do quan sát được. Do đó nó gắn liền với tính sáng tạo tuy khác nhau về mức độ. Năng lực có thể rèn luyện để phát triển được, với các cá nhân khác nhau thì năng lực cũng khác nhau về mức độ. Từ sự nghiên cứu của các tác giả ở trên chúng ta có thể nhận thấy rằng: Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý (hoặc kỹ năng) của con người để thực hiện thành công một hoạt động nào đó.
Năng lực gắn với khả năng hoàn thành một hoạt động cụ thể, cho dù trong quá trình thực hiện có nảy sinh vấn đề thì vẫn có cách giải quyết được do đó nó gắn liền với tính tư duy sáng tạo tuy khác nhau về mức độ 1. Các yếu tố của năng lực Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”. Như vậy, năng lực là sự tổng hợp các thuộc tính cá nhân của con người vì năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó ví dụ như: khả năng tri giác, trí nhớ.Năng lực là sự tổng hợp của các thuốc tính tâm lý 11 cá nhân, nó không phải là phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn. Các loại năng lực Theo tâm lí học, ở cùng một lĩnh vực hoạt động thì năng lực được chia thành 3 mức độ khác nhau, tất nhiên ranh giới giữa các mức độ trong phạm vi hẹp có thể không rõ ràng: năng lực, tài năng; thiên tài.
Ngoài ra nếu dựa vào đặc tính chuyên môn trong lĩnh vực hoạt động thì năng lực bao gồm hai dạng cơ bản là năng lực chung và năng lực riêng biệt. Trong nhà trường còn có thể phân loại năng lực thành năng lực bộ môn, năng lực liên môn và trong cùng một môn học là năng lực cơ bản, năng lực đề cao. Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và thực tiễn dạy học, có thể cho rằng các năng lực thành tố cơ bản nhất trong môn Toán tập chung vào nhóm năng lực tư duy Toán học như: năng lực tư duy lôgic; năng lực tư duy biện chứng; năng lực phê phán; năng lực tư duy trừu tượng, ngoài ra còn có năng lực kí hiệu hóa và mô hình hóa; năng lực khái quát hóa; trí tưởng tượng; trực giác toán học; trí nhớ toán học,. Theo chương trình giáo dục phổ thông mới (2018), bên cạnh rèn luyện tốt 5 phẩm chất thì học sinh cần được phát triển 10 năng lực cốt lõi gồm: - Năng lực tự chủ và tự học - Năng lực giao tiếp và hợp tác - Năng lực ngôn ngữ - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo - Năng lực tính toán - Năng lực khoa học - Năng lực Công nghệ - Năng lực Tin học 12 - Năng lực thẩm mỹ - Năng lực thể chất 1.
Năng lực khám phá 1. Khái niệm Năng lực khám phá là một trong những năng lực quan trọng, giúp người học có thể tự mình trải nghiệm, tìm kiếm thông tin để đưa ra kết luận về một vấn đề nào đó. Theo Từ điển Anh-Anh-Việt, thuật ngữ discovery có nghĩa là lần đầu tiên tìm ra, phát hiện ra một nơi nào đó hoặc một đối tượng nào đó. Theo Từ điển Tiếng Việt, “khám phá là tìm ra, phát hiện ra cái còn ẩn giấu, cái bí mật”.
Trong nghiên cứu khoa học, hoạt động khám phá đề cập đến các phương thức khác nhau mà các nhà khoa học nghiên cứu về thế giới tự nhiên, đề xuất các giải thích dựa trên bằng chứng thu được từ các nghiên cứu của họ. Trong học tập, tìm tòi – khám phá đề cập đến các hoạt động của người học dần phát triển vốn kiến thức và hiểu biết về các vấn đề khoa học, đồng thời hiểu được cách thức mà các nhà khoa học đã tìm ra tri thức đó. Theo các công trình nghiên cứu về khám phá thì khám phá là sự tìm tòi tích cực, bao gồm nhiều quá trình mà qua đó biến kinh nghiệm trở thành kiến thức. Có 4 kiểu khám phá đó là: - Khám phá quy nạp - Khám phá diễn dịch - Dạy học tự phát hiện (còn gọi là học tập khám phá) - Giải quyết vấn đề Ở đề tài này, chúng tôi tiếp cận về năng lực khám phá theo quan điểm là năng lực phát hiện giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Đặc điểm của năng lực khám phá - Năng lực khám phá là một dạng năng lực hoạt động, luôn ở trạng thái động được nảy sinh trước những tình huống có vấn đề, đặc biệt là các vấn đề mở. 13 - Năng lực khám phá được đặc trưng bởi tính sáng tạo của chủ thể hoạt động trên con đường tìm kiếm các kết quả mới. - Năng lực khám phá thể hiện rõ nét ở tính linh hoạt, mềm dẻo, thích ứng của tư duy cũng như sự độc đáo của các phương thức giải quyết vấn đề. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4, 5 1.
Nhận thức cảm tính Về các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác của học sinh đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. Về tri giác: ở đầu lứa tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối lứa tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, tri giác có chủ định( học sinh biết lập kế hoạch, biết sắp xếp công việc).Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút học sinh bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác. Nhận thức cảm tính của học sinh lớp 4, 5 đã có bước tiến bộ lớn. Trong đó phải kể đến nhất là trình độ phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá lí luận….Tuy nhiên nhận thức của các em vẫn phụ thuộc nhiều vào mô hình, vật thật.
Các em đã biết tìm ra các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, biết phân biệt sắc thái của các chi tiết để đi đến phân tích, tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Tri giác, ở đây, đã mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng. Nhận thức lí tính Về tư duy: Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận.
Về tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật. Ở đầu lứa tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền 14 vững và dễ thay đổi; ở cuối lứa tuổi tiểu học tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ các em đã tái tạo ra những hình ảnh mới.