Thiết Kế và Sử Dụng Bản Đồ Khái Niệm Trong Dạy Học Chương 'Sinh Trưởng và Phát Triển'

Luận văn thạc sĩ trình bày thiết kế và ứng dụng bản đồ khái niệm trong dạy học chương sinh trưởng và phát triển sinh học lớp 11 THPT.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2014

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Lịch sử nghiên cứu về bản đồ khái niệm

1.2. Nghiên cứu BĐKN trên thế giới

1.3. Nghiên cứu BĐKN ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG "SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN" (SH 11 - THPT)

2.1. Cấu trúc, nội dung chương Sinh trưởng và phát triển (SH 11 - THPT)

2.2. Các nguyên tắc thiết kế BĐKN

2.2.1. Nguyên tắc tiếp cận cấu trúc hệ thống

2.2.2. Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện dạy học

2.2.3. Nguyên tắc phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

2.3. Thiết kế BĐKN chương ST và PT (Sinh học 11)

2.4. Quy trình chung thiết kế BĐKN

2.5. Công cụ xây dựng bản đồ khái niệm

2.6. Hệ thống các BĐKN chương Sinh trưởng và phát triển (SH 11-THPT)

2.7. Sử dụng BĐKN trong dạy học chương Sinh trưởng và phát triển (SH 11- THPT)

2.7.1. Sử dụng BĐKN trong dạy kiến thức mới

2.7.2. Sử dụng BĐKN trong hoàn thiện tri thức

2.7.3. Sử dụng BĐKN trong kiểm tra, đánh giá

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm

3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.4. Phương án thực nghiệm sư phạm

3.5. Chọn trường thực nghiệm

3.6. Chọn giáo viên và lớp tham gia thực nghiệm

3.7. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

3.7.1. Phương pháp phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm

3.7.2. Kết quả phân tích thực nghiệm

3.7.2.1. Kết quả phân tích định lượng
3.7.2.2. Phân tích định tính

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thiết Kế Bản Đồ Khái Niệm Trong Dạy Học Sinh Học

Thiết kế bản đồ khái niệm là một phương pháp dạy học hiện đại, giúp học sinh hình dung và tổ chức kiến thức một cách hiệu quả. Bản đồ khái niệm không chỉ đơn thuần là sơ đồ mà còn là công cụ hỗ trợ tư duy, giúp học sinh kết nối các khái niệm trong chương trình học. Việc áp dụng bản đồ khái niệm trong dạy học sinh học mang lại nhiều lợi ích, từ việc tăng cường khả năng ghi nhớ đến việc phát triển tư duy phản biện.

1.1. Khái Niệm Về Bản Đồ Khái Niệm

Bản đồ khái niệm là một sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các khái niệm. Nó giúp học sinh dễ dàng hình dung và tổ chức thông tin, từ đó nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức.

1.2. Lợi Ích Của Bản Đồ Khái Niệm Trong Dạy Học

Sử dụng bản đồ khái niệm giúp học sinh tiết kiệm thời gian học tập, tăng khả năng ghi nhớ và dễ dàng tái hiện kiến thức. Nó cũng khuyến khích sự sáng tạo và tư duy độc lập.

II. Vấn Đề Trong Việc Áp Dụng Bản Đồ Khái Niệm Trong Dạy Học

Mặc dù bản đồ khái niệm mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc áp dụng nó trong dạy học cũng gặp phải một số thách thức. Giáo viên cần có kỹ năng thiết kế bản đồ khái niệm hiệu quả và học sinh cần được hướng dẫn cách sử dụng công cụ này một cách hợp lý.

2.1. Thách Thức Trong Việc Thiết Kế Bản Đồ Khái Niệm

Giáo viên thường gặp khó khăn trong việc thiết kế bản đồ khái niệm phù hợp với nội dung bài học. Việc thiếu kinh nghiệm có thể dẫn đến những bản đồ không hiệu quả.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Sử Dụng Bản Đồ Khái Niệm

Học sinh có thể gặp khó khăn trong việc hiểu và sử dụng bản đồ khái niệm nếu không được hướng dẫn đầy đủ. Điều này có thể làm giảm hiệu quả của phương pháp dạy học này.

III. Phương Pháp Thiết Kế Bản Đồ Khái Niệm Hiệu Quả Trong Dạy Học

Để thiết kế bản đồ khái niệm hiệu quả, giáo viên cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản. Việc xác định rõ mục tiêu dạy học và nội dung kiến thức là rất quan trọng. Ngoài ra, việc sử dụng các công cụ hỗ trợ thiết kế cũng giúp nâng cao chất lượng bản đồ khái niệm.

3.1. Nguyên Tắc Thiết Kế Bản Đồ Khái Niệm

Nguyên tắc đầu tiên là xác định rõ các khái niệm chính và mối quan hệ giữa chúng. Bản đồ cần được tổ chức một cách logic và dễ hiểu.

3.2. Công Cụ Hỗ Trợ Thiết Kế Bản Đồ Khái Niệm

Có nhiều phần mềm hỗ trợ thiết kế bản đồ khái niệm như Cmap Tools, MindMeister. Những công cụ này giúp giáo viên dễ dàng tạo ra các bản đồ sinh động và trực quan.

IV. Ứng Dụng Bản Đồ Khái Niệm Trong Dạy Học Sinh Học

Bản đồ khái niệm có thể được áp dụng trong nhiều khâu của quá trình dạy học sinh học. Từ việc giới thiệu kiến thức mới đến củng cố và kiểm tra đánh giá, bản đồ khái niệm giúp học sinh nắm vững kiến thức một cách hiệu quả.

4.1. Sử Dụng Bản Đồ Khái Niệm Trong Giới Thiệu Kiến Thức Mới

Giáo viên có thể sử dụng bản đồ khái niệm để giới thiệu các khái niệm mới, giúp học sinh dễ dàng hình dung và kết nối thông tin.

4.2. Bản Đồ Khái Niệm Trong Kiểm Tra Đánh Giá

Bản đồ khái niệm cũng có thể được sử dụng trong các bài kiểm tra đánh giá, giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và thể hiện khả năng tư duy.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Bản Đồ Khái Niệm Trong Dạy Học

Bản đồ khái niệm sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Với sự phát triển của công nghệ, việc áp dụng bản đồ khái niệm sẽ ngày càng trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.

5.1. Xu Hướng Sử Dụng Công Nghệ Trong Thiết Kế Bản Đồ Khái Niệm

Công nghệ sẽ giúp giáo viên và học sinh dễ dàng thiết kế và sử dụng bản đồ khái niệm, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học.

5.2. Tương Lai Của Bản Đồ Khái Niệm Trong Giáo Dục

Bản đồ khái niệm sẽ trở thành một phần không thể thiếu trong giáo dục, giúp học sinh phát triển tư duy và khả năng học tập suốt đời.

18/06/2025
Luận văn thạc sĩ thiết kế và sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học chương sinh trưởng và phát triển sinh học 11 thpt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu về bản đồ khái niệm 1. Nghiên cứu BĐKN trên thế giới Bản đồ khái niệm được phát triển vào năm 1972 bởi Novak tại đại học Cornell (Hoa Kì), nơi ông đã tìm cách làm theo và hiểu được những thay đổi trong kiến thức khoa học của trẻ em (Novak, 1993). Từ đó đến nay, BĐKN được coi là công cụ hữu ích cho nhiều lĩnh vực trong đó có giáo dục; Việc sử dụng BĐKN như là một chiến lược giảng dạy lần đầu tiên được phát triển bởi Novak; Tiếp sau đó có nhiều tác giả thuộc nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu BĐKN và sử dụng vào dạy học.

Năm 1988, Novak và Gowin thực hiện các BĐKN trong lớp học cho cả học sinh và giáo viên khám phá và mô tả có ý nghĩa quan hệ giữa các KN về đối tượng, nghiên cứu làm cho nó có thể tạo ra các kết nối giữa chúng. Năm 1995, Soyibo nghiên cứu sử dụng BĐKN để so sánh nội dung kiến thức trong các sách giáo khoa sinh học. Năm 2002, Ribbenb, Jones và Moris nghiên cứu xây dựng BĐKN của các môn khoa học. Năm 2003, Derbentseva và Canas đã nghiên cứu BĐKN dạng chu kì và xác định hiệu quả của chúng trong việc kích thích tư duy của học sinh.

Nghiên cứu BĐKN ở Việt Nam Ở Việt Nam, hiện nay sử dụng BĐKN vẫn là một hướng nghiên cứu mới. Các tác giả Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao cũng đã đề cập đến vai trò của BĐKN, các tác giả cho rằng BĐKN vẽ ra các mối quan hệ, các móc xích kết nối các kiến thức mới học được với nhau, kết nối các thông tin mới với những thông tin đã có. BĐKN giúp cho trí nhớ dễ dàng tái hiện các thông tin có liên quan dựa vào những KN then chốt, các tác giả đã đưa ra một số bài tập để rèn luyện kĩ năng lập BĐKN cho HS [18]. Tác giả Trần Bá Hoành trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK” đã cho rằng “Ở khâu xử lý thông tin, người ta quan tâm đến kỹ thuật thiết kế BĐKN.

BĐKN thiết kế trong đầu cũng đã có lợi cho tư duy nhưng sẽ có tác dụng hơn cho học tập nếu cụ thể hóa bản đồ đó trên giấy, trên bảng… BĐKN giúp cho trí nhớ dễ dàng tái hiện các thông tin có liên quan dựa vào những KN then chốt” [19 ]. 7 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ Tác giả Phan Đức Duy [16] bước đầu nghiên cứu cơ sở tâm lý nhận thức và quy trình chung về sử dụng BĐKN trong DH Sinh học cấp THPT. Tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh [9 ], [10 ] bước đầu nghiên cứu về cơ sở tâm lý nhận thức, vai trò, quy trình chung thiết kế BĐKN trong DH cũng như tiện ích của phần mềm Cmap Tools trong việc thiết kế BĐKN. Tác giả Ngô Văn Hưng (2010) trong luận án tiến sĩ Giáo dục học “Rèn luyện HS kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy học SH 9” đã chỉ ra vai trò của BĐKN trong DH, tác giả cho rằng BĐKN là một trong những biện pháp logic dùng để thiết kế các sơ đồ và hệ thống hóa các KN [24].

Trong vài năm trở lại đây đã có nhiều hơn các luận án, luận văn chú ý nghiên cứu, ứng dụng BDKN, chứng tỏ việc sử dụng BĐKN đang một ngày được chú ý nhiều hơn bởi các đặc điểm ưu việt của nó phù hợp với đặc trưng của môn học. Tóm lại, tổng quan tài liệu về BĐKN chúng tôi nhận thấy rằng: các tác giả đều nhấn mạnh vai trò hữu ích của BĐKN trong các lĩnh vực đặc biệt là trong DH. Ở Việt Nam, đã có một số tác giả bước đầu nghiên cứu về BĐKN trong DH nói chung và DH sinh học nói riêng. Vì vậy việc tiếp tục làm rõ cơ sở lý thuyết của BĐKN cũng như xác định được quy trình thiết kế và quy trình sử dụng BĐKN vào quá trình DH để nâng cao hơn nữa chất lượng DH bộ môn SH là rất cần thiết.

Một số vấn đề lý luận liên quan đến thiết kế và sử dụng BĐKN trong dạy học Sinh học. Sự hình thành và phát triển khái niệm trong dạy học Sinh học Đối với bộ môn SH, kiến thức cơ bản nhất là hệ thống các KN, các quá trình, các quy luật SH liên hệ chặt chẽ với nhau, được hình thành và phát triển theo một trật tự logic. Thực chất kiến thức về quá trình SH cũng là loại kiến thức KN, nó phản ánh một chuỗi các sự kiện, hiện tượng liên tiếp xảy ra theo một trình tự chặt chẽ, có tính định hướng. Kiến thức về quy luật cũng là kiến thức KN, nó phản ánh xu thế vận động phát triển tất yếu của các sự vật hiện tượng và mối liên hệ bản chất giữa các sự vật hiện tượng [13 ].

Việc sắp xếp, phân loại các KN thành hệ thống rất quan trọng đối với cả HS và GV trong quá trình DH Sinh học. Vì vậy việc giảng dạy các KN không chỉ để HS nắm vững nội hàm của KN mà còn phải làm cho HS biết cách xắp xếp các KN vào hệ thống các KN đã có. Nhờ đó giúp HS có được tư duy hệ thống, tư duy logic giúp HS dễ dàng lĩnh hội và khắc sâu kiến thức, thúc đẩy thói quen tự học. 8 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.2 Khái niệm * Khái niệm và khái niệm sinh học.

Theo các tác giả Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành (1998): “KN là hình thức của tư duy, trong đó phản ánh dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn nhất hay lớp các sự vật đồng nhất. KN là những tri thức khái quát về những dấu hiệu bản chất và thuộc tính chung nhất của từng nhóm sự vật, hiện tượng cùng loại; về những mối liên hệ và tương quan tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng khách quan” [3]. Tác giả Vương Tất Đạt (2007) cho rằng: “Khái niệm là hình thức tư duy trong đó phản ánh dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn nhất hay các lớp sự vật đồng nhất. Trong khái niệm, thứ nhất, bản chất của sự vật được phản ánh, thứ hai, sự vật hay lớp sự vật nổi bật trên cơ sở của các dấu hiệu cơ bản khác biệt”[13].

Khái niệm sinh học là loại KN phản ánh các cấu trúc sống các hiện tượng sống và các quy luật của sự sống. * Cấu trúc của khái niệm - KN bao giờ cũng có nội hàm và ngoại diên. - Nội hàm của KN là tập hợp những dấu hiệu cơ bản khác biệt (dấu hiệu bản chất) của các đối tượng được phản ánh trong KN. Ví dụ, nội hàm của KN “sinh trưởng của thực vật ” là “quá trình tăng về kích thước của cơ thể do tăng số lượng và kích thước tế bào”.

- Ngoại diên của KN là tập hợp tất cả các đối tượng có chứa những dấu hiệu bản chất được phản ánh trong KN. Ví dụ, ngoại diên của KN “sinh trưởng của thực vật ” bao gồm cả " sinh trưởng sơ cấp" và " sinh trưởng thứ cấp". * Đặc tính của khái niệm - Tính chung: KN là kết quả của quá trình nhận thức đi từ cái đơn nhất đến cái phổ biến, từ cái riêng đến cái chung bằng con đường khái quát hóa. Đơn nhất là những dấu hiệu thuộc tính chỉ có ở sự vật, hiện tượng nhất định.

Phổ biến là những dấu hiệu thuộc tính chung có ở nhiều sự vật hay hiện tượng. Sự tổng hòa các dấu hiệu hoặc thuộc tính chung và bản chất hợp thành nội dung KN. Như vậy, nội dung KN là sự tổng hợp chứ không phải là một phép cộng các dấu hiệu. 9 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ - Tính bản chất: Trong các dấu hiệu và thuộc tính chung, người ta phân ra được một số thuộc tính và dấu hiệu bản chất, mà nhờ nó về cơ bản, chúng ta có thể phân biệt được loại sự vật, hiện tượng này với loại sự vật, hiện tượng khác.

- Tính phát triển: KN không phải là điểm xuất phát trong sự vận động của nhận thức mà còn là tổng kết của quá trình vận động đó, nó không chỉ là công cụ của tư duy mà còn là kết quả của quá trình tư duy. Nhận thức của khoa học ngày càng phát triển thì khái niệm khoa học càng có những nội dung mới và nội dung mới được bổ sung đến mức nào đó thì hình thành khái niệm mới. Như vậy, đặc điểm này của khái niệm hoàn toàn tuân theo lộ trình của lịch sử. Lịch sử khoa học là sự phát triển của khái niệm, nghĩa là có sự thay đổi, bổ sung nội dung khái niệm cũ hình thành khái niệm mới [34].

* Mối quan hệ giữa các khái niệm - Quan hệ đồng nhất: hai KN cùng đối tượng nhưng được phản ánh bằng những thuật ngữ khác nhau. - Quan hệ lệ thuộc: một KN ít phổ biến hơn nằm trong một KN phổ biến hơn. - Quan hệ ngang hàng: đây là quan hệ giữa các KN cùng lệ thuộc trong một KN khác. - Quan hệ trái ngược: hai KN có nội dung trái ngược nhau, cùng nằm trong phạm vi một KN khác.

* Phân loại khái niệm - Căn cứ vào các dấu hiệu của sự vật hiện tượng, người ta chia KN thành 2 loại là KN cụ thể và KN trừu tượng. + KN cụ thể là loại KN phải ánh các dấu hiệu của những sự vật hiện tượng, có thể nhận biết trực tiếp bằng các giác quan; được hình thành trên cơ sở quan sát, so sánh một nhóm tài liệu trực quan. + KN trừu tượng là loại KN phản ánh các thuộc tính bản chất bên trong của các sự vật hiện tượng, không thể nhận biết trực tiếp bằng các giác quan mà phải qua sự phân tích của tư duy trừu tượng. - Căn cứ vào đối tượng phản ánh, người ta chia KN thành 4 loại đó là KN sự vật, KN hiện tượng, KN quá trình, KN quan hệ.

10 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www. Sự hình thành khái niệm Sinh học Dạy học KN nói chung và KN Sinh học nói riêng thực chất là quá trình hình thành và phát triển KN [20]. Theo tác giả Trần Bá Hoành và một số tác giả khác thì sự hình thành KN cụ thể và KN trừu tượng cho HS theo 2 con đường. Tuy có nhiều điểm (bước) chung như bước 1; bước 4 và bước 5 (theo quy trình 5 bước nhưng cũng có những điểm khác nhau phân biệt ở bước 2 và bước 3 (Hình 1.1) Sơ đồ các con đường hình thành KN cụ thể và KN trừu tượng): Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Thiết Kế Bản Đồ Khái Niệm Trong Dạy Học Sinh Học cung cấp một cái nhìn sâu sắc về cách sử dụng bản đồ khái niệm để nâng cao hiệu quả dạy học trong môn Sinh học. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức thông tin một cách trực quan, giúp học sinh dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ kiến thức. Bản đồ khái niệm không chỉ hỗ trợ việc học tập mà còn khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện của học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dạy học tích hợp và phát triển năng lực cho học sinh, bạn có thể tham khảo tài liệu dạy học dự án sản xuất son môi từ thiên nhiên theo định hướng giáo dục steam, nơi bạn sẽ tìm thấy những cách tiếp cận mới mẻ trong giáo dục. Ngoài ra, tài liệu dạy học tích hợp liên môn bài trung quốc thời phong kiến bằng hình thức dạy học tích hợp cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc kết hợp các môn học để tạo ra một trải nghiệm học tập phong phú hơn. Cuối cùng, tài liệu phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử việt nam 1919-1975 sẽ cung cấp thêm thông tin về cách tổ chức kiến thức lịch sử một cách hiệu quả, tương tự như bản đồ khái niệm trong Sinh học.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn mà còn cung cấp những phương pháp dạy học sáng tạo, giúp nâng cao chất lượng giáo dục.